Văn hóa – Di sản

Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long

PGS.TS Trình Năng Chung 15:05 12/02/2026

Trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đền Bạch Mã (trấn Đông) cùng với đền Voi Phục (trấn Tây), đền Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc) được biết đến là “Thăng Long tứ trấn”, biểu tượng cho đời sống tâm linh chốn Kinh kỳ. Là ngôi đền trấn giữ phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã được định vị ở phía Nam sông Tô Lịch trên bản đồ Hồng Đức thế kỷ XV, gần cửa sông Tô đổ ra sông Nhị (sông Hồng), thuộc phường Giang Khẩu. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long, nay tọa lạc ở địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Huyền tích vó ngựa trấn Đông

Đền Bạch Mã được xây dựng vào thời thuộc Đường. Sách “Lĩnh Nam chích quái” và “Việt điện u linh tập” (thế kỷ XIV) đều có ghi chép lại sự tích về thần Long Đỗ và sự hình thành đền Bạch Mã.

ttxvnbach_ma4.jpg
Điểm nổi bật của kiến trúc bên trong đền Bạch Mã là toàn bộ khung nhà gỗ với hệ thống cột gỗ lim lớn

Theo đó, Long Đỗ chỉ điểm thiêng của thần núi Long Đỗ - Rốn rồng - núi Nùng, chính là nơi tiếp nhận khí thiêng sông núi của đất kinh thành Thăng Long xưa. Trong “Lĩnh Nam chích quái”, thần Long Đỗ và thần sông Tô Lịch là một và là vị thần Thành hoàng đầu tiên bảo vệ thành Đại La.

Truyền thuyết dân gian còn ghi lại nhiều sự tích về thần Long Đỗ gắn với nhiều sự kiện lớn của đất Thăng Long. Một trong những sự tích ly kỳ nhất về thần Long Đỗ được dân gian truyền tụng là việc trấn yểm của Cao Biền. Theo sách “Việt điện u linh”, năm 866, Cao Biền - viên quan Tiết độ sứ nhà Đường khi đắp xong thành Đại La bèn ra cửa Đông dạo chơi. Bỗng đâu gió nổi, mây mù, giữa đám mây bỗng hiện ra một người mặc áo gấm, cưỡi rồng ẩn hiện. Đêm đó, Cao Biền nằm mộng thấy vị thần ấy đến bên nói: “Ta là linh khí tinh anh ở Long Đỗ. Nghe tin ông đắp thành nên đến xem chơi, chớ có ngờ”. Tỉnh dậy, Cao Biền sợ hãi, lập tức nảy sinh ý định lập bùa trấn yểm bằng cách lấy vàng, đồng và bùa chôn xuống đất. Việc vừa làm xong, bỗng một trận cuồng phong nổi lên, làm tất cả đồ trấn yểm biến thành tro bụi.

Để tự trấn an sự kinh hãi của bản thân trước sự oai linh của Đức thần Long Đỗ, chính Cao Biền đã phải lập đền thờ thần Long Đỗ. Câu chuyện trên, tuy có khoác cái vỏ hoang đường của Đạo giáo, song vẫn phản ánh rõ nét tinh thần bất khuất của nhân dân ta chống lại mọi sự uy hiếp của các triều đại phong kiến đô hộ ngoại bang.

Cũng theo “Việt điện u linh” và “Lĩnh Nam chích quái”, năm 1010, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, trong quá trình mở rộng phủ thành, việc đắp thành nhiều lần bị lở. Nhà vua bèn sai người tới đền Long Đỗ để cầu thần. Đêm ấy, vua nằm mộng thấy thần hiện đến chúc mừng và dặn cứ theo dấu vó ngựa mà đắp. Hôm sau, có con ngựa trắng từ đền đi ra, qua thành một vòng, đi đến đâu để lại dấu vết đến đấy, rồi quay vào đền thì biến mất. Y lời thần, nhà vua cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến đâu chắc đến đấy. Sau đó, vua sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi là đền Bạch Mã. Bạch Mã được coi như hiện thân của thần Long Đỗ.

ngua-trang-duoc-tho-ben-trong-den-bach-ma.jpg
Ngựa trắng được thờ bên trong đền Bạch Mã.

Trải qua hơn nghìn năm lịch sử, đền Bạch Mã vẫn giữ nguyên vị trí trên không gian xưa. Ngôi đền đã được tu bổ nhiều lần nhưng vẫn giữ được cảnh quan uy nghiêm cùng những giá trị văn hóa, lịch sử đặc biệt.

Dấu ấn kiến trúc truyền thống

Đền Bạch Mã mang đậm dấu ấn kiến trúc truyền thống Việt Nam. Đền quay theo hướng Nam, gồm các hạng mục: Nghi môn, phương đình, nhà tiền tế, trung tế, hậu cung và nhà thờ Mẫu ở phía sau, được bố trí theo chiều dọc. Bên trong đền là toàn bộ khung nhà gỗ với hệ thống cột gỗ lim lớn; bộ đỡ mái được chế tác theo phong cách “chồng rường, giá chiêng” với nét chạm khắc tỉ mỉ, chắc chắn, mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn. Đặc biệt, hệ thống mái hình vòm hình vỏ cua liên kết tất cả các thành phần kiến trúc thành một hệ thống kiến trúc khép kín. Đây là điều đặc biệt ít thấy ở các di tích kiến trúc tín ngưỡng ở miền Bắc nước ta.

Cho đến nay, chưa có tư liệu ghi chép cụ thể về kiến trúc thuở ban đầu của đền Bạch Mã. Tuy nhiên, qua những thư tịch cổ, đặc biệt là qua những tấm bia đá ở đền, có thể nhận diện những lần trùng tu, nâng cấp kiến trúc ngôi đền. Tấm bia Bạch Mã thần từ bi ký dựng năm Chính Hòa thứ 8 (năm 1687) có nói đến việc trùng tu, tôn cao nền kiến trúc. Bia Văn chỉ bi ký, thời Cảnh Hưng thứ 35 (năm 1734), có nói đến việc xây dựng văn chỉ ở phía trái ngôi đền.

Trong sách “Kiến văn tiểu lục” (năm 1777), nhà bác học Lê Quý Đôn viết: “Ở Kinh sư, đền Bạch Mã là một trong tám ngôi đền thờ thượng đẳng thần… và các ngôi đền đều có kiến trúc chung là làm theo hình chữ công, tiền đường, hậu đường đều ba gian hai chái, nhà cầu ba gian, phòng bếp ba gian, nghi môn một gian”.

Việc xây dựng nhà phương đình (năm 1839) trước gian tiền tế được ghi lại trong một văn bia thời Minh Mạng. Bên cạnh đó, một số bản vẽ mặt bằng đền Bạch Mã được lưu giữ trong những tài liệu thời Pháp (năm 1928 - 1933) cho thấy mặt bằng ngôi đền Bạch Mã khi đó khá tương đồng với mặt bằng ngôi đền hiện nay. Thời gian gần đây, đền Bạch Mã vẫn tiếp tục được sửa sang, tu bổ quy mô lớn, đặc biệt là vào những năm 2010 và giai đoạn 2018 - 2020.

Di vật cổ lưu giữ giá trị lịch sử, nghệ thuật

Hiện nay, đền Bạch Mã còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị lịch sử và nghệ thuật như bia đá, sắc phong, tượng thờ, đôi phỗng, kiệu thờ, chuông đồng, đôi hạc đồng, hương án, lư hương…

Với 15 bia đá và 21 bản sắc phong có niên đại từ thời Lê Trung Hưng đến thời nhà Nguyễn, đây là nguồn sử liệu quan trọng phản ánh lịch sử hình thành, phát triển cũng như giá trị của đền Bạch Mã. Các tư liệu và hiện vật này cho thấy sự tôn kính của các vương triều và nhân dân đối với thần chủ đền: Long Đỗ - Bạch Mã đại vương.

Tại gian hậu cung, tượng thần Long Đỗ bằng gỗ sơn son thếp vàng, ngồi trên ngai là bức tượng chân dung có giá trị, mang nhiều yếu tố phong cách nghệ thuật tượng thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII-XVIII, thể hiện qua các hoa văn trang trí trên mũ và áo.
Đôi tượng phỗng bằng gỗ ở gian Trung tế, trong tư thế quỳ có phong cách tạo hình và thần thái biểu cảm sinh động, mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thời Lê Trung Hưng.

Đáng chú ý là chiếc kiệu thờ bát cống (8 người khiêng) bằng gỗ sơn son thếp vàng với các mảng trang trí hình Long, Ly, Quy, Phượng và hoa lá. Đây là hiện vật hiếm thấy ở vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa, dùng để rước ngai vị của vị thần chủ Long Đỗ - Bạch Mã trong các dịp lễ trọng của đền.

Trong đền còn lưu giữ một số chuông đồng với kích thước khác nhau. Nổi bật là chiếc đại hồng chung (chuông lớn) có cấu hình, hoa văn và cấu trúc các khung, ô ghi chữ trên thân mang phong cách điển hình của chuông cuối thế kỷ XVIII. Chiếc chuông này có nhiều điểm tương đồng với chuông chùa Hà (năm 1799), chuông làng Cót (năm 1800) và chuông đền Sóc - Thiên Vương quán (năm 1794).

Hệ thống hoành phi, câu đối cổ ca ngợi giá trị, sự linh thiêng của ngôi đền và vị thần chủ, nổi bật là bức hoành phi Đông trấn chính từ. Trên ngai vị của thần chủ có ghi dòng chữ “Long Đỗ thần quân Quảng Lợi Bạch Mã Đại Vương”.

den-bach-ma-anh-thay-trang-44-45-.jpg
Đền Bạch Mã.

Một hiện vật quý khác đó là tấm biển gỗ sơn son thếp vàng, trên đó có ghi bài thơ về đền Bạch Mã của Thái sư Trần Quang Khải - vị tướng tài năng thời Trần. Bài thơ ca ngợi sự linh thiêng của thần đền Bạch Mã trong việc trấn áp tà quỷ, bảo vệ kinh thành, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sự phù trợ của thần trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, mang lại thái bình cho đất nước. Đây là thi phẩm nổi tiếng, thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc.
Bên cạnh đó, nhiều đồ thờ tự khác như đôi hạc đồng, lư hương, đỉnh đồng, ngai thờ, án thờ, các bình, lọ gốm sứ lớn… đều mang lớp trầm tích của thời gian với nghệ thuật trang trí vô cùng đặc sắc của thời Nguyễn.

Cùng với giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, các hiện vật trong đền Bạch Mã là nguồn tư liệu quý, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội về nhiều phương diện.

Lễ hội truyền thống làm nên sức sống di sản

Bên cạnh hệ thống di vật mang giá trị lịch sử nghệ thuật, lễ hội truyền thống là yếu tố quan trọng làm nên sức sống bền bỉ của đền Bạch Mã trong đời sống văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Lễ hội đền Bạch Mã gồm lễ hội thường niên và đại lễ tổ chức 5 năm một lần. Trong lễ hội lớn có tổ chức lễ Xuân Ngưu (dâng trâu mùa xuân) - một nghi thức quan trọng liên quan đến lễ hội đền Bạch Mã. Lễ hội được mở đầu bằng nghi thức cáo thỉnh do vị thủ từ và đội tế nam đứng ra thực hiện. Sau phần lễ tế Thánh, mô hình trâu được làm với kích thước tương đương trâu thật sẽ được rước từ đền Bạch Mã ra bờ sông Hồng để làm lễ “hóa” nghênh xuân tiến ngưu, hàm nghĩa tống khí lạnh mùa đông, đón khí ấm mùa xuân về. Đây là một nghi thức quan trọng của hội đền Bạch Mã.

Lễ hội thường niên được tổ chức vào hai ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch hằng năm. Trong thời gian diễn ra lễ hội, bên cạnh các nghi thức dâng hương, tế Thánh trang nghiêm, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa phục vụ đông đảo nhân dân và du khách thập phương như: biểu diễn chầu văn, ca trù, chèo, quan họ, cùng các màn trình diễn võ thuật tại sân khấu ngoài trời và trong khuôn viên đền Bạch Mã.

Xưa, lễ hội đền Bạch Mã do triều đình chỉ đạo tổ chức, mang ý nghĩa tầm quốc gia và có quy mô lớn ở kinh thành. Ngày nay, lễ hội vẫn được duy trì nhưng có quy mô nhỏ hơn.

Giữa nhịp sống hiện đại của Thủ đô, đền Bạch Mã không chỉ là không gian tín ngưỡng linh thiêng của “trấn Đông Thăng Long” mà còn là nơi kết tinh chiều sâu lịch sử, văn hóa và tinh thần cộng đồng của người Hà Nội. Với hệ thống kiến trúc, di vật và lễ hội truyền thống đặc sắc, ngôi đền như một mạch nguồn văn hóa bền bỉ, khẳng định sức sống của di sản trong đời sống đương đại./.

Bài liên quan
  • Khám phá Tết xưa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
    Sáng 6/2/2026, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình trải nghiệm văn hóa “Khám phá Tết xưa” thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên và các gia đình tại Hà Nội.
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Nhớ cỗ Tết thời bao cấp
    Bắt đầu là sự nghiệp xếp hàng. Ngày thường xếp hàng đã khổ, giáp Tết còn kinh hoàng hơn. Nhà nào đông con như gia đình tôi thì còn đỡ, phân công người nào việc nấy...
  • Ngựa trong tâm thức dân gian của người Việt
    Trong kho tàng di sản vật thể và phi vật thể của người Việt, ngựa là một trong những con vật mang nhiều giá trị thực dụng nhất là trong trận mạc nhưng cũng là một con vật thiêng gắn bó sâu sắc với tâm thức người Việt.
  • Tuyên truyền sâu rộng kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 18-HD/BTGDVTU, ngày 5/2/2026 về tuyên truyền kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (01/3/1906 – 01/3/2026). Hướng dẫn nhằm tôn vinh những cống hiến to lớn của đồng chí Phạm Văn Đồng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
  • Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và SABECO chung tay trao 900 phần quà Tết
    Vừa qua, Tổng Công ty Cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và chính quyền địa phương để trao tặng tổng cộng 900 phần quà mang thông điệp “Chung Vị Tết Việt” cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn – những con người đại diện cho sự lạc quan và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
  • Phường Cửa Nam trao hơn 720 phần quà cho gia đình chính sách, hoàn cảnh khó khăn
    Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, chiều 11/2, UBND phường Cửa Nam tổ chức chương trình “Tết nhân ái” chào Xuân Bính Ngọ 2026, trao quà tới người có công, người cao tuổi, hộ cận nghèo, các gia đình có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng yếu thế trên địa bàn.
Đừng bỏ lỡ
Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO