Từ thức quà tiến vua đến thúc đẩy du lịch trải nghiệm văn hóa ẩm thực Hà Nội
Tại ngôi nhà cổ ở xóm 4 (thôn Mông Phụ, phường Sơn Tây, TP Hà Nội), gia đình ông Hà Hữu Thể và bà Phan Thị Tiến vẫn gìn giữ trọn vẹn nghề làm tương nếp tiến vua nức tiếng. Không chỉ bảo tồn hương vị ẩm thực xứ Đoài, từ những vại tương có nắp đậy vẽ hoạ tiết trống đồng Đông Sơn tại gia đình ông Thể, bà Tiến đang thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm…
Gửi gắm niềm tự hào về cội nguồn dân tộc
Bước qua ngưỡng cửa đá ong nhuốm màu thời gian của ngôi nhà cổ mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam tại thôn Mông Phụ, mùi thơm nồng đượm của nếp cái hoa vàng hòa cùng hương đỗ rang gợi nhắc về một nếp sống thanh bình chốn thôn dã. Nếp nhà gỗ lim vững chãi qua bao năm tháng cùng khoảng sân gạch đỏ của gia đình ông Hà Hữu Thể không chỉ là chốn đi về ấm cúng của nhiều thế hệ, mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ trọn vẹn hồn cốt làng quê Bắc Bộ.

(Ảnh: Quỳnh Mai)
Đến đây, du khách được thết đãi những thức quà quê dân dã do chính bàn tay ông Thể, bà Tiến cùng gia đình chuẩn bị. Từ những mẹt chè lam dẻo thơm cay ấm vị gừng, mâm bánh đúc lạc bùi béo, những chiếc bánh gai quánh mịn, cho đến các món quà lưu niệm mộc mạc thủ công mang dấu ấn xứ Đoài. Nổi bật giữa khoảng sân rộng ấy là những hàng chum sành xếp thẳng tắp, nơi ông Thể cùng vợ là bà Phan Thị Tiến ngày ngày chăm chút cho từng mẻ tương nếp truyền thống – thức quà từng dùng để tiến vua lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Để tạo nên giọt tương nếp sánh quyện, đậm đà với vị ngọt hậu đặc trưng, mọi công đoạn đều được thực hiện hoàn toàn thủ công theo phương pháp truyền đời. Mở nắp từng vại tương ông Hà Hữu Thể chia sẻ: “Làm tương nếp kỳ công ngay từ khâu chọn nguyên liệu. Gạo phải là nếp cái hoa vàng hạt tròn mẩy đem đồ chín tới thành xôi dẻo, đỗ tương hạt tiêu lòng xanh vỏ bóng rang chín vàng thơm bùi, cùng đỗ xanh và muối hạt tinh sạch. Nhưng bí quyết cốt tử làm nên độ ngọt thanh, mát lành của tương nhà tôi chính là nguồn nước khơi từ giếng Nghè hoặc các giếng đá ong cổ trong làng. Mạch nước ngầm mát rượi chắt lọc qua các tầng đá ong hàng trăm năm chứa đựng sự tinh khiết của đất trời xứ Đoài, thứ mà nước máy hay nước giếng khoan hiện đại không thể nào thay thế được.”

(Ảnh: Quỳnh Mai)
Sau khâu đồ xôi và rang đỗ, công đoạn ủ mốc xôi nếp được người thợ già coi là khâu then chốt quyết định phẩm cấp của mẻ tương. Xôi nếp sau khi chín được dàn đều trên những chiếc mẹt tre truyền thống để đón gió trời và lên men vi sinh hoàn toàn tự nhiên. Bà Phan Thị Tiến tiếp lời: “Người xưa dạy làm tương khó nhất là nuôi mốc. Mốc chính là linh hồn quyết định độ ngọt sâu và mùi thơm dịu của tương. Người thợ phải canh nhiệt độ và độ ẩm tự nhiên thật chuẩn xác sao cho mốc lên đều, xanh mượt như nhung và dậy mùi thơm ngọt mát. Mốc đạt chuẩn mới đem ngâm cùng nước giếng cổ, phối trộn với đỗ tương rang xay mịn rồi trút vào chum sành mang ra phơi nắng.”

Nét độc đáo trong khoảng sân nhà ông Thể, bà Tiến còn ở những chiếc nắp đậy chum tương. Từng chiếc nắp chum sành đều được đúc hoa văn phỏng theo trống đồng Đông Sơn tinh xảo, nổi bật với hình tượng ngôi sao nhiều cánh tỏa rạng ở trung tâm và đàn chim lạc sải cánh bay viền quanh. Ông Thể cho biết thêm: “Tương là sản vật hấp thụ linh khí của trời đất. Gia đình tôi chọn nắp đậy mang họa tiết trống đồng Đông Sơn và chim lạc vừa để che mưa che nắng, giữ nhiệt độ ổn định cho men tương chuyển hóa, vừa gửi gắm niềm tự hào về cội nguồn văn hóa dân tộc. Mỗi khi du khách bước chân vào sân, nhìn thấy nắp vại là thấy ngay biểu tượng ngàn năm của người Việt.”


Nghề làm tương tại Đường Lâm gắn liền với chu kỳ thời tiết, trong đó mùa chính thường rộ từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch, khi miền Bắc đón những đợt nắng hạ rực rỡ nhất. Tương chín nhờ nắng, nắng càng gay gắt thì tương càng sánh đậm. Suốt một đến hai tháng ròng phơi ngoài sân, mỗi sớm mai gia chủ lại mở nắp, dùng chiếc đũa cái khuấy đều cho tương “thở” và ngậm đủ nhiệt lượng. Khi nước tương chuyển sang màu vàng hoa cải óng ả, dậy hương thơm nức ngõ xóm là lúc mẻ tương đạt độ chín hoàn hảo, để càng lâu trong chum sành phơi đủ nắng thì tương càng ngấu và hương vị lại càng thơm ngon, đậm đà.
Trải nghiệm văn hoá ẩm thực thu hút du khách

Không gian nhà cổ cùng nghề làm tương truyền thống của gia đình ông Thể, bà Tiến giờ đây đã trở thành điểm dừng chân trải nghiệm quen thuộc của các đoàn du khách quốc tế... Du khách không chỉ dừng lại ở việc ngắm nhìn kiến trúc cổ mà còn hào hứng được trải nghiệm cầm đũa cái khuấy từng miệng chum sành ấm sực dưới nắng, nghe thuyết minh về cơ chế lên men vi sinh và thưởng thức giọt tương ngọt bùi chấm cùng miếng bánh đúc bùi bùi béo ngậy ngay tại sân nhà. Những trải nghiệm thị giác và vị giác chân thực ấy đã biến di sản thành ký ức văn hóa sống động trong lòng bạn bè năm châu.

Không chỉ dừng lại ở một điểm đến du lịch trải nghiệm hay thưởng thức ẩm thực, khuôn viên nhà cổ với những bức tường đá ong trầm mặc, hàng chum sành phủ màu thời gian và mái ngói rêu phong còn trở thành điểm hẹn lý tưởng cho những ai say mê nét đẹp hoài cổ.
Cứ mỗi dịp cuối năm độ Tết đến xuân về hay mùa cưới rộn rã, khoảng sân gạch nhà ông bà lại rộn ràng đón các bạn trẻ diện cổ phục, áo dài truyền thống cùng các cặp đôi tìm về ghi lại những khoảnh khắc hạnh phúc. Vẻ đẹp mộc mạc, đậm chất hoài niệm của không gian Bắc Bộ xưa hòa cùng hương thơm thoang thoảng của tương nếp tạo nên những góc máy giàu cảm xúc mà các phim trường nhân tạo hiện đại khó lòng có được.
Cách làm du lịch tại gia đình ông Thể, bà Tiến cho thấy sự đổi mới, sáng tạo, lan tỏa hình ảnh người Hà Nội văn minh, thanh lịch. Bên cạnh đó, việc đưa nghề làm tương truyền thống cùng các món quà quê gắn liền với hoạt động trải nghiệm giúp tri thức bản địa thành nguồn lực kinh tế giàu tiềm năng, góp sức thúc đẩy du lịch làng nghề nói riêng, công nghiệp văn hóa Hà Nội nói chung phát triển trong thời kỳ mới./.