Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, khoảng năm 1010, sau khi rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, khi qui hoạch các cung điện trong kinh thành Thăng Long, vua Lý Công Uẩn đã cho xây dựng: “…phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ… Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy là nơi vua nghỉ…”. Điện Càn Nguyên là công trình trung tâm của Hoàng thành Thăng Long thời đó, nên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vị trí của tòa nhà này phải rất gần với khu vực nền điện Kính Thiên hiện nay. Năm 2002, công tác khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long đã làm xuất lộ nhiều di tích nền móng cung điện thời Lý ở đây, phần nào xác nhận giả thiết trên. Có thể thấy, điện Giảng Võ mà nhà vua cho xây dựng không thể nằm quá xa khu vực Hoàng thành Thăng Long.

Vậy, Giảng Võ trường - nơi vua Lý cho lập để giảng dạy binh pháp và luyện tập võ nghệ ở khu vực Thập Tam trại được hiểu thế nào? Có thể suy luận rằng, do chức năng quan trọng của công tác giảng võ tại Hoàng thành Thăng Long cũng như việc này đòi hỏi một không gian rộng lớn hơn. Và, để tránh sự ồn ào, náo nhiệt thường có khi luyện tập nên vua đã cho mở thêm chỗ để thực hành của điện Giảng Võ tại vùng Thập Tam trại nằm ở phía Tây kinh thành. Từ đó vùng đất này có thêm tên gọi là Giảng Võ. Đây chính là những bước đi đầu tiên của công tác tổ chức, huấn luyện và đào tạo các võ tướng của vua Lý Công Uẩn và các triều đại sau. Thời vua Lý Anh Tông (năm 1170) có lập thêm “xạ đình” làm nơi “vua tập bắn và cưỡi ngựa ở phía Nam thành Đại La. Vua còn sai các quan võ hằng ngày luyện tập các phép công chiến phá trận”. Cơ sở huấn luyện này có tính “dã chiến” nên tuy đã bỏ khá nhiều công tìm kiếm song đến nay giới khảo cổ học hầu như chưa phát hiện được dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần nào ở đây.
Cùng với việc xây dựng Quốc Tử Giám và mở các kỳ thi văn để lựa chọn nhân tài văn học, ngay từ khi dời đô về thành Thăng Long, các vua nhà Lý luôn coi trọng việc rèn luyện võ nghệ và giảng dạy binh pháp cho các hoàng tử và võ sinh như là một quá trình chuẩn bị nhân sự để lựa chọn võ tướng cho tương lai. Công việc này được duy trì không chỉ suốt trong thời các vua Lý mà còn nối tiếp sang triều Trần và triều Lê. Theo “Khâm Định Việt sử toàn thư” thì tháng 8, mùa thu năm 1253, vua Trần Thái Tông cho lập “nhà Giảng Võ” cũng là để giảng dạy binh pháp và luyện tập quân sự chuẩn bị đối phó với âm mưu xâm lược nước ta của quân Nguyên Mông. Như vậy, địa danh Giảng Võ ở đây có nguồn từ điện Giảng Võ và là nơi thao trường luyện tập võ nghệ và binh pháp trong khu Thập Tam trại xưa và đã trải suốt hàng trăm năm với các triều đại Lý - Trần - Lê.
Theo bản đồ khu Giảng Võ trường thời Lê sơ (vẽ lại trên nền bản đồ thời Hồng Đức 1490), khu Giảng Võ trường ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa, có một đường đất đắp cắt qua hai vùng hồ lớn, với các địa danh đền Linh Lang, đền Khán Sơn và Giảng Võ trường. Trong đó, tên Khán Sơn là do vua Lê Thánh Tông thường lên núi đó xem duyệt binh và giảng võ.

Công tác khảo sát thực địa cũng cho thấy đây là vùng đất thấp trũng với cảnh quan tự nhiên đặc trưng là sự trải dài liên tiếp của hệ thống các đầm, hồ ao và ruộng trũng rộng lớn như hồ Ngọc Khánh, Giảng Võ, Thủ Lệ; đầm Nước Trắng, Cái Khế… Chúng có mối quan hệ nguồn cội chặt chẽ với hệ thống sông Tô Lịch và Kim Ngưu của kinh thành xưa. Nổi lên trên phần mặt nước mênh mông đó là những gò hay dải đất cao thấp khác nhau, mà một số tên gọi còn lưu đến nay như: Núi Bò, Núi Trúc, Núi Cắm Cờ, Gò Ngọc Khánh, Gò Miếu Ông, Gò Dài, Gò Giữa, Gò Lim… Đó cũng được xem là nơi những cư dân đầu tiên của vùng đến định cư lập nghiệp, họ dựng nhà nơi các nền đất cao và kiếm sống chủ yếu bằng nghề cấy lúa, trồng rau và đánh cá.
Làng Giảng Võ xưa có diện tích khá rộng, trải từ trường Mỹ thuật Công nghiệp qua khu triển lãm về hồ Ngọc Khánh và đầu ô Cầu Giấy, song dân cư lại tập trung chủ yếu ở khu vực đình Giảng Võ, nơi thờ bà Lý Châu Nương, người có công cai quản kho lương của nhà Trần nên dân làng còn gọi là Bà Chúa Kho. Cũng lưu ý là, trên địa bàn làng còn lưu lại nhiều địa danh cổ rất đáng lưu ý như: Đầm Chín Khúc, Tràng Thây, Tràng Kiếm, Tràng Trên, Tràng Dưới, Núi Hình cùng các gò như Gò Tiên Hiền, Gò Cờ, Gò Vật, Gò Voi, Nhà Cát, Tràng Bắn, Bãi Ngựa, Gò Lủi… Vào khoảng thế kỷ XIX, làng Giảng Võ thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức. Từ sau ngày Hà Nội được giải phóng (năm 1954), cùng với sự phát triển của Thủ đô, làng Giảng Võ dần trở thành phường Giảng Võ như hiện nay.
Xem lại bản đồ Hà Nội năm 1890 thì thấy trục đường Kim Mã đi Sơn Tây còn tương đối giống với hiện nay; đồng thời có thể nhận thấy rõ vị trí của một số gò (núi) đất trong khu vực. Ngọn núi cao hình vuông nằm giữa hai làng Liễu Giai và Đại Yên có thể là Khán Sơn xưa, còn khu vực hồ Ngọc Khánh hiện nay, trước đó có tên gọi là Bảo Khánh vốn là vùng đất ruộng. Điều này phần nào lý giải sự kiện phát hiện được một kho vũ khí lớn ở đây năm 1983.
Tháng 4 năm 1983, khi thi công cải tạo hồ Ngọc Khánh các nhà khoa học đã sưu tầm được một khối lượng lớn hiện vật khảo cổ học, trong đó có 74 hiện vật là di di vật kiến trúc và đồ gốm, số còn loại là 433 hiện vật là các loại hình vũ khí, đạn đá và một số di vật kim loại khác. Trong đó bao gồm cả bạch khí (loại vũ khí vận hành bằng sức lực cơ bắp) và hỏa khí (loại vũ khí vận hành bằng thuốc nổ).
Đầu thời Lê sơ, ngay sau chiến thắng quân Minh, vua Lê Thái Tổ đã có chủ trương tiếp tục xây dựng khu vực phía Tây Thăng Long (bao gồm Giảng Võ, Ngọc Khánh, Kim Mã) trở thành một trung tâm huấn luyện, khảo hạch và diễn tập quân sự lớn. Khu vực Giảng Võ trường thực chất đã trở thành một trường quân sự của cả nước. Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), vua ra lệnh cho các tướng hiệu và quân nhân các vệ quân 5 đạo tập trận thủy và bộ... Theo “Thăng Long cổ tích khảo” của Đặng Xuân Khanh, thì khoảng năm Thuận Thiên, vua Lê Thái Tổ đã cho dựng điện Giảng Võ ở trên núi Khán Sơn, vua thường tới (đó) ngự duyệt quân xem bắn.
Năm 1437, vua Lê Thái Tông đặt luật lệ khảo thí võ nghệ các tướng hiệu trong các quân vệ với 3 môn thi gồm bắn cung, ném tên, đánh mộc... Việc này sau định làm lệ thường. Võ sinh hằng ngày phải đến trường Giảng Võ ở phía Tây kinh thành tập luyện các môn bắn cung, phóng lao, đâm khiên, cưỡi ngựa... Sau 1 năm tập luyện, đến tháng Chạp võ sinh phải thi sát hạch. Sau 3 năm tập luyện, võ sinh được thi dự tuyển chọn do Bộ tổ chức, tùy theo đức tài, công lao mà cất nhắc dần lên...

Đến thời vua Lê Thánh Tông, việc đào tạo và sát hạch võ quan đã có tính pháp chế nghiêm định. Vào năm 1478, vua lấy sân điện Giảng Võ làm nơi quân tướng tập trận. Từ đó, khu vực phía Tây Thăng Long (bao gồm khu vực Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Khánh) đã trở thành một trung tâm luyện tập, khảo hạch và diễn tập quân sự lớn. Các con, cháu trưởng các tước công, hầu, bá, tủ, nam và con trưởng các quan văn võ hàm nhị phẩm, tam phẩm nếu xin học võ nghệ sẽ được giao cho các quan thuộc vệ Cẩm Y huấn luyện tại Giảng Võ trường. Để đáp ứng cho nhu cầu tập luyện, thi, diễn võ bị tại Giảng Võ trường, năm 1481, Lê Thánh Tông cho xây dựng điện Giảng Võ với quy mô lớn, thủy bộ hoàn chỉnh. Sách ghi: “Mùa đông tháng 10, đào hồ Hải Trì, hồ này quanh co đến trăm dặm. Giữa hồ có điện Thúy Ngọc, bên hồ xây điện Giảng Võ để điểm duyệt, tập luyện binh mã”. Nơi đây đã trở thành nơi huấn luyện quân sĩ lớn nhất của cả nước.
Vào thời vua Lê Hiến Tông, Giảng Võ còn là nơi huấn luyện voi trận. Voi được nuôi trong những khu chuồng lợp ngói và những người lính kiêm quản tượng ở vùng Bắc Giang đã được tuyển để chuyên huấn luyện voi. Voi đã trở thành một lực lượng đáng kể trong biên chế của quân đội Đại Việt, được gọi là: Tượng binh. Sử liệu cũng ghi rằng, thời nhà Lê đã tuyển chọn được khá nhiều voi ở các nơi về tập luyện ở Giảng Võ trường và lập thành các đội tượng binh. Thỉnh thoảng, nơi đó còn tổ chức các cuộc đấu khốc liệt giữa voi và hổ hay voi với sơn dương để cho vua Lê Thánh Tông và quân sĩ xem, giải trí.
Tại khu vực hồ Ngọc Khánh, bên cạnh sưu tập về vũ khí các nhà khảo cổ còn phát hiện các dấu tích của lò bễ, xỉ sắt và những phác vật vũ khí đang chế tạo dở, cho thấy chúng đã được sản xuất tại chỗ. Điều này minh chứng rõ ràng rằng Giảng Võ trường xưa không chỉ là nơi đào tạo, huấn luyện binh sĩ còn là địa điểm sản xuất, sửa chữa vũ khí và cung cấp quân trang, quân dụng phục vụ công tác đào tạo và tập luyện của tướng sĩ. Đặc biệt, khi phát hiện hầu hết các vũ khí đều có cán tra bằng tre hoặc gỗ, cho thấy chúng được sử dụng trong cả tập luyện và chiến đấu.
Ngày nay, các khu di tích diễn tập binh pháp, rèn luyện võ nghệ, bắn cung, cưỡi ngựa, thao duyệt quân sự xưa hầu như không còn. Song, qua các tài liệu lịch sử, các sưu tập vũ khí và những di vật kiến trúc… còn tìm được có thể xác định nơi đây đã là một võ trường quốc gia quy mô lớn với nhiều loại quân binh hợp thành và đã có thời gian tồn tại nhiều thế kỷ.
Trải qua bao thế hệ, ông cha đã để lại bài học quý giá rằng đào tạo nhân tài cho quốc gia bao giờ cũng là nhiệm vụ hàng đầu. Trên đất Thăng Long xưa cùng với Văn Miếu Quốc Tử Giám là nơi đào tạo các quan văn còn có Giảng Võ trường giữ vai trò đào tạo quan võ, gánh trọng trách bảo vệ quốc gia. Đối với người Thăng Long xưa, Giảng Võ trường không chỉ là một bãi đất rộng nơi rèn quân luyện tướng, mà còn là biểu tượng của một quốc gia thịnh trị, nơi tinh thần thượng võ hòa quyện cùng tri thức nhân văn, nơi đạo đức của người cầm gươm được xem trọng không kém gì kỹ năng chiến đấu. Tìm lại lịch sử Giảng Võ trường xưa cũng chính là trở lại với một di sản văn hóa lịch sử giàu ý nghĩa nhân văn của Thăng Long - Hà Nội./.
