Mỹ thuật

Họa sĩ Đỗ Đức và hành trình “mỹ thuật hóa” di sản

Minh Anh 19/03/2026 10:18

Hơn bốn thập kỷ bền bỉ gắn bó với vùng núi phía Bắc, họa sĩ Đỗ Đức đã lặng lẽ “đọc” và “ghi” di sản các dân tộc bằng ngôn ngữ của màu sắc, đường nét. Bộ tranh “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của ông không đơn thuần tái hiện hình hài váy áo, mà đi sâu thể hiện “mã gen” văn hóa - nơi kết tinh thế giới quan, nhân sinh quan và ký ức cộng đồng qua bao thế hệ. Mỗi bức tranh vì thế trở thành một “hồ sơ” sống động về bản sắc các tộc người vùng cao.

Ghi chép sắc phục dân tộc bằng hội họa

Những ngày đầu năm 2026, công chúng yêu mỹ thuật Thủ đô có dịp chiêm ngưỡng bộ tranh đặc biệt của họa sĩ Đỗ Đức mang tên “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”. Bộ tranh gồm 11 tác phẩm, tái hiện 55 trang phục truyền thống của nhiều dân tộc như Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chay, Cao Lan, Giáy, Bố Y, Pa Dí, La Hủ, Hà Nhì, Cống… gắn liền với không gian sống, phong tục và bản sắc văn hóa đặc trưng. Không chỉ là tác phẩm nghệ thuật, bộ tranh còn là một công trình mang giá trị di sản và dân tộc học sâu sắc.

hoa-si-do-duc.jpg

Đây là kết quả của một hành trình dài, gần như trọn đời gắn bó của họa sĩ Đỗ Đức với miền núi phía Bắc. Ông không tiếp cận văn hóa dân tộc như một đề tài được “đặt hàng”, mà xuất phát từ sự thôi thúc tự nhiên: đi nhiều, nhìn kỹ, lắng nghe lâu và rung động thật sự trước vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế của con người nơi biên viễn.
Từng nhiều năm công tác tại các tỉnh miền núi, rồi giữ vai trò Trưởng Ban Sách Mỹ thuật của NXB Văn hóa Dân tộc, ông có cơ hội tiếp xúc sâu với đời sống văn hóa các tộc người. Nhưng bước ngoặt thực sự đến với ông vào năm 1978, tại Hội diễn nghệ thuật quần chúng các dân tộc thiểu số toàn miền Bắc ở Thái Nguyên. Đó là lần đầu tiên, ông tận mắt thấy những sắc phục Pa Dí, Xá Phó, Lô Lô, Khơ Mú… khác hẳn sự giản dị của đồng bào Tày, Nùng, vẻ hào hoa của người Thái, và cũng không giống hình dung quen thuộc về trang phục Mông, Dao. Trải nghiệm thị giác ấy vừa lạ lẫm vừa thôi thúc, khiến ông tự hỏi: Tại sao những sắc phục này lại ít được biết và ghi chép đến vậy?

Ý tưởng làm một cuốn sách ảnh về trang phục dân tộc từng được họa sĩ đề xuất với nhà xuất bản, song vì nhiều điều kiện khách quan, dự định chưa thể thành hình. Không chờ đợi, ông tự mình bắt tay thực hiện. Trong hoàn cảnh thiếu thốn tư liệu và phương tiện, không có máy ảnh, họa sĩ trực tiếp ký họa ghi lại từng chi tiết của trang phục. Những chuyến công tác miền núi từ đó trở thành quá trình âm thầm tích lũy tư liệu: quan sát, phác thảo, hỏi han đồng bào về nguồn gốc trang phục, về những truyền thuyết, quan niệm tín ngưỡng và tri thức dân gian ẩn sau từng mô típ hoa văn.

Họa sĩ kể: “Chưa biết để làm gì và thể hiện thế nào, nhưng tôi cứ nhặt dần sau từng chuyến đi. Có cơ hội tôi hỏi chuyện về nguồn gốc bộ trang phục nếu có người nào biết được chút ít. Rồi tôi hiểu thêm truyền thuyết về chiếc khăn trắng của người Dao Tiền, họa tiết tua chồ (con chó) có ý nghĩa gì với tinh thần bà con? Tại sao bộ váy áo Pu Péo lại chắp từ hàng trăm miếng vải nhỏ. Tại sao người Dao quần cộc Quảng Ninh lại không giống các nhánh Dao khác có quần và váy dài mà chỉ có chiếc quần cộc?..”.

Điều giữ họa sĩ suốt nhiều năm chính là “bầu trời văn hóa” ẩn sau mỗi hoa văn. Mỗi đường thêu, mỗi màu sắc đều là kết tinh của nhiều thế hệ, là tầng tầng lớp lớp ký ức. Ở đó có lịch sử di cư, có môi trường sống, có quan niệm về vũ trụ và con người… Qua tìm hiểu, họa sĩ Đỗ Đức nhận ra rằng, một dân tộc có thể có nhiều nhánh, và mỗi nhánh lại có sắc phục riêng. Chẳng hạn, người Dao có tới 12 nhánh, tương ứng với 12 bộ trang phục khác nhau. Chỉ một Dao đỏ không thể đại diện cho Dao tiền, Quần chẹt, Quần trắng, Ô gang, Tiểu bản… vì sắc phục hoàn toàn khác. Tương tự, trong cộng đồng người Mông đen, thì Mông đen Quỳ Hợp (Nghệ An) khác hoàn toàn Mông đen Sơn La và Mông đen Sapa (Lào Cai). Cũng như vậy, sắc phục Nùng An (Cao Bằng) khác Nùng Cháo (Lạng Sơn)...
Sự đa dạng ấy khiến ông khẳng định: nếu thống kê đầy đủ, Việt Nam phải có trên 120 bộ sắc phục khác nhau - một kho tàng văn hóa đa dạng và giàu bản sắc hiếm có trên thế giới.

Hội họa lưu trữ di sản

Những nghiên cứu, ghi chép của họa sĩ Đỗ Đức dần dần được đưa lên tranh. Ban đầu, họa sĩ chọn màu nước để thể hiện, mỗi tranh một bộ sắc phục. Nhưng điều kiện vật chất thiếu thốn khiến công việc gián đoạn. Giai đoạn 1994 - 1996, ông đổi cách tiếp cận: đặt năm bộ sắc phục trên cùng một mặt tranh, sắp xếp theo nhóm ngôn ngữ, để các tộc người vừa hiện diện độc lập, vừa đối thoại trong một chỉnh thể văn hóa rộng lớn. Kết quả là 13 bức tranh với 64 bộ sắc phục, trong đó 11 bức được ông lưu giữ cho đến hiện nay.
Bộ tranh gốc vẽ trên giấy dó, nhưng để bảo đảm độ bền, ông chuyển sang chất liệu sơn mài. Đây tiếp tục là một bước thử nghiệm mới của họa sĩ Đỗ Đức trên con đường sáng tạo nghệ thuật của ông. Với sắc màu lóng lánh, sang trọng của sơn mài truyền thống, vẻ đẹp của các bộ trang phục dân tộc miền núi phía Bắc được thể hiện trọn vẹn, thu hút người thưởng lãm.

z7483618123943_40beeef849c9a665399a84714d169f62.jpg
Bộ tranh “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của họa sĩ Đỗ Đức được giới thiệu tới người yêu mỹ thuật Thủ đô và du khách.

Trước đó, năm 2009, bộ tranh về các sắc phục của họa sĩ Đỗ Đức được trưng bày tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở Paris (Pháp) gây ngạc nhiên và thán phục cho khán giả quốc tế. Sau đó, bộ tranh cũng được giới thiệu trong cuốn sách “Trang phục và nét văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam” (NXB Mỹ thuật, 2022), đoạt Giải Khuyến khích - Giải thưởng Sách Quốc gia 2023 như một sự ghi nhận cho giá trị học thuật và văn hóa mà công trình mang lại…

Điều làm nên sự đặc biệt trong hành trình của họa sĩ Đỗ Đức không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm hay sự công phu trong từng chi tiết, mà còn ở cách ông biến hội họa thành một kho lưu trữ văn hóa. Bộ tranh “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” chính là minh chứng sống động: nếu các nhà dân tộc học ghi chép bằng chữ viết, con số và sơ đồ, thì ông lại ghi chép bằng màu sắc, bố cục và đường nét. Các bức tranh mở ra thế giới của các tộc người miền núi, với những bộ váy áo rực rỡ, những hoa văn thấm đẫm truyền thuyết, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng.

Vẽ để thống kê được sắc phục của các dân tộc trên khắp đất nước là mong muốn của họa sĩ Đỗ Đức. Dẫu chưa trọn vẹn, bộ tranh vẫn là một thành quả đặc biệt quý giá. Những bức tranh này có giá trị bảo lưu những bộ sắc phục cổ truyền đang dần biến mất, khi hàng may mặc thương mại tiện dụng đang lan tràn ở khắp nơi. Ví dụ bộ sắc phục Mông Hoa của người Mông Lai Châu mà họa sĩ Đỗ Đức ghi chép khoảng năm 1978, giờ đã mất dấu. Hiện nay đến Lô Lô Chải ở Lũng Cú, may ra có thể thấy người già còn những bộ áo quần cổ nhất, tuy đã cũ sờn theo thời gian…

Họa sĩ Đỗ Đức chia sẻ: “Nếu có một loạt hoa văn các dân tộc trộn lẫn, tôi có thể nhặt ra hoa văn của từng dân tộc”. Đó là kết quả của hàng chục năm đọc bản thảo, trao đổi với các nhà nghiên cứu, điền dã ở vùng cao, và quan trọng hơn cả là sống cùng đồng bào, lắng nghe họ kể chuyện về chính văn hóa của mình.

z7483628940156_7fd829b943e6ad728c33857465532bcf.jpg

Trong dòng chảy toàn cầu hóa, khi đặc trưng bản địa dễ bị lấn át, bộ tranh của ông khơi gợi niềm tự hào về sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam; nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của trang phục truyền thống; đồng thời cung cấp nguồn tư liệu giá trị cho nghiên cứu văn hóa và dân tộc học./.

Sinh năm 1945, họa sĩ Đỗ Đức tốt nghiệp với bài thi “Chợ vùng cao” năm 1980, mở đầu cho sự nghiệp tranh khắc gỗ của mình. Ông gắn bó với giấy dó gần 30 năm, rồi tiếp tục thử nghiệm với sơn dầu, sơn mài.

Dù ở bất kỳ chất liệu nào, đề tài miền núi và các dân tộc thiểu số vẫn là mạch nguồn xuyên suốt trong sáng tác của ông. Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam và Bảo tàng Văn hóa các dân tộc
Việt Nam ở Thái Nguyên.

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn - Nơi lưu giữ ký ức về một nhân cách lớn của Thủ đô Hà Nội
    Những ngày cuối năm 2025, tôi có dịp đến Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn tại thôn Bặt Chùa, xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội. Giữa cánh đồng rộng mở, trong làn gió nhè nhẹ và sự thanh bình của một miền quê còn đậm nét Bắc Bộ ở phía nam Thủ đô, Khu lưu niệm hiện lên trang nghiêm mà gần gũi. Bước chân tôi chợt chậm lại như đang đi vào một không gian của ký ức, nơi lưu giữ câu chuyện về một nhân cách lớn đã dành trọn cuộc đời phụng sự đất nước và Nhân dân.
  • Cá thể hóa điều trị: xu hướng nâng cao hiệu quả cho bệnh nhân tim mạch và chuyển hóa
    Trong bối cảnh mô hình bệnh tật tại Việt Nam đang có những dịch chuyển đáng kể, sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh lý không lây nhiễm, đặc biệt là nhóm bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa, đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho hệ thống y tế. Để giải quyết bài toán này, xu hướng "cá thể hóa điều trị" — tức thiết kế phác đồ chuyên biệt cho từng người bệnh dựa trên các đặc điểm lâm sàng cụ thể — đang trở thành kim chỉ nam trong thực hành lâm sàng hiện đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Phường Phú Lương phấn đấu hoàn thành chiến dịch "45 ngày" xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
    Thực hiện Kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội, chiều ngày 14/7, UBND Phú Lương tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch chiến dịch "45 ngày" hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn phường.
Họa sĩ Đỗ Đức và hành trình “mỹ thuật hóa” di sản
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO