Họa sĩ Đỗ Đức và hành trình “mỹ thuật hóa” di sản
Hơn bốn thập kỷ bền bỉ gắn bó với vùng núi phía Bắc, họa sĩ Đỗ Đức đã lặng lẽ “đọc” và “ghi” di sản các dân tộc bằng ngôn ngữ của màu sắc, đường nét. Bộ tranh “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của ông không đơn thuần tái hiện hình hài váy áo, mà đi sâu thể hiện “mã gen” văn hóa - nơi kết tinh thế giới quan, nhân sinh quan và ký ức cộng đồng qua bao thế hệ. Mỗi bức tranh vì thế trở thành một “hồ sơ” sống động về bản sắc các tộc người vùng cao.
Ghi chép sắc phục dân tộc bằng hội họa
Những ngày đầu năm 2026, công chúng yêu mỹ thuật Thủ đô có dịp chiêm ngưỡng bộ tranh đặc biệt của họa sĩ Đỗ Đức mang tên “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”. Bộ tranh gồm 11 tác phẩm, tái hiện 55 trang phục truyền thống của nhiều dân tộc như Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chay, Cao Lan, Giáy, Bố Y, Pa Dí, La Hủ, Hà Nhì, Cống… gắn liền với không gian sống, phong tục và bản sắc văn hóa đặc trưng. Không chỉ là tác phẩm nghệ thuật, bộ tranh còn là một công trình mang giá trị di sản và dân tộc học sâu sắc.

Đây là kết quả của một hành trình dài, gần như trọn đời gắn bó của họa sĩ Đỗ Đức với miền núi phía Bắc. Ông không tiếp cận văn hóa dân tộc như một đề tài được “đặt hàng”, mà xuất phát từ sự thôi thúc tự nhiên: đi nhiều, nhìn kỹ, lắng nghe lâu và rung động thật sự trước vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế của con người nơi biên viễn.
Từng nhiều năm công tác tại các tỉnh miền núi, rồi giữ vai trò Trưởng Ban Sách Mỹ thuật của NXB Văn hóa Dân tộc, ông có cơ hội tiếp xúc sâu với đời sống văn hóa các tộc người. Nhưng bước ngoặt thực sự đến với ông vào năm 1978, tại Hội diễn nghệ thuật quần chúng các dân tộc thiểu số toàn miền Bắc ở Thái Nguyên. Đó là lần đầu tiên, ông tận mắt thấy những sắc phục Pa Dí, Xá Phó, Lô Lô, Khơ Mú… khác hẳn sự giản dị của đồng bào Tày, Nùng, vẻ hào hoa của người Thái, và cũng không giống hình dung quen thuộc về trang phục Mông, Dao. Trải nghiệm thị giác ấy vừa lạ lẫm vừa thôi thúc, khiến ông tự hỏi: Tại sao những sắc phục này lại ít được biết và ghi chép đến vậy?
Ý tưởng làm một cuốn sách ảnh về trang phục dân tộc từng được họa sĩ đề xuất với nhà xuất bản, song vì nhiều điều kiện khách quan, dự định chưa thể thành hình. Không chờ đợi, ông tự mình bắt tay thực hiện. Trong hoàn cảnh thiếu thốn tư liệu và phương tiện, không có máy ảnh, họa sĩ trực tiếp ký họa ghi lại từng chi tiết của trang phục. Những chuyến công tác miền núi từ đó trở thành quá trình âm thầm tích lũy tư liệu: quan sát, phác thảo, hỏi han đồng bào về nguồn gốc trang phục, về những truyền thuyết, quan niệm tín ngưỡng và tri thức dân gian ẩn sau từng mô típ hoa văn.
Họa sĩ kể: “Chưa biết để làm gì và thể hiện thế nào, nhưng tôi cứ nhặt dần sau từng chuyến đi. Có cơ hội tôi hỏi chuyện về nguồn gốc bộ trang phục nếu có người nào biết được chút ít. Rồi tôi hiểu thêm truyền thuyết về chiếc khăn trắng của người Dao Tiền, họa tiết tua chồ (con chó) có ý nghĩa gì với tinh thần bà con? Tại sao bộ váy áo Pu Péo lại chắp từ hàng trăm miếng vải nhỏ. Tại sao người Dao quần cộc Quảng Ninh lại không giống các nhánh Dao khác có quần và váy dài mà chỉ có chiếc quần cộc?..”.
Điều giữ họa sĩ suốt nhiều năm chính là “bầu trời văn hóa” ẩn sau mỗi hoa văn. Mỗi đường thêu, mỗi màu sắc đều là kết tinh của nhiều thế hệ, là tầng tầng lớp lớp ký ức. Ở đó có lịch sử di cư, có môi trường sống, có quan niệm về vũ trụ và con người… Qua tìm hiểu, họa sĩ Đỗ Đức nhận ra rằng, một dân tộc có thể có nhiều nhánh, và mỗi nhánh lại có sắc phục riêng. Chẳng hạn, người Dao có tới 12 nhánh, tương ứng với 12 bộ trang phục khác nhau. Chỉ một Dao đỏ không thể đại diện cho Dao tiền, Quần chẹt, Quần trắng, Ô gang, Tiểu bản… vì sắc phục hoàn toàn khác. Tương tự, trong cộng đồng người Mông đen, thì Mông đen Quỳ Hợp (Nghệ An) khác hoàn toàn Mông đen Sơn La và Mông đen Sapa (Lào Cai). Cũng như vậy, sắc phục Nùng An (Cao Bằng) khác Nùng Cháo (Lạng Sơn)...
Sự đa dạng ấy khiến ông khẳng định: nếu thống kê đầy đủ, Việt Nam phải có trên 120 bộ sắc phục khác nhau - một kho tàng văn hóa đa dạng và giàu bản sắc hiếm có trên thế giới.
Hội họa lưu trữ di sản
Những nghiên cứu, ghi chép của họa sĩ Đỗ Đức dần dần được đưa lên tranh. Ban đầu, họa sĩ chọn màu nước để thể hiện, mỗi tranh một bộ sắc phục. Nhưng điều kiện vật chất thiếu thốn khiến công việc gián đoạn. Giai đoạn 1994 - 1996, ông đổi cách tiếp cận: đặt năm bộ sắc phục trên cùng một mặt tranh, sắp xếp theo nhóm ngôn ngữ, để các tộc người vừa hiện diện độc lập, vừa đối thoại trong một chỉnh thể văn hóa rộng lớn. Kết quả là 13 bức tranh với 64 bộ sắc phục, trong đó 11 bức được ông lưu giữ cho đến hiện nay.
Bộ tranh gốc vẽ trên giấy dó, nhưng để bảo đảm độ bền, ông chuyển sang chất liệu sơn mài. Đây tiếp tục là một bước thử nghiệm mới của họa sĩ Đỗ Đức trên con đường sáng tạo nghệ thuật của ông. Với sắc màu lóng lánh, sang trọng của sơn mài truyền thống, vẻ đẹp của các bộ trang phục dân tộc miền núi phía Bắc được thể hiện trọn vẹn, thu hút người thưởng lãm.

Trước đó, năm 2009, bộ tranh về các sắc phục của họa sĩ Đỗ Đức được trưng bày tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở Paris (Pháp) gây ngạc nhiên và thán phục cho khán giả quốc tế. Sau đó, bộ tranh cũng được giới thiệu trong cuốn sách “Trang phục và nét văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam” (NXB Mỹ thuật, 2022), đoạt Giải Khuyến khích - Giải thưởng Sách Quốc gia 2023 như một sự ghi nhận cho giá trị học thuật và văn hóa mà công trình mang lại…
Điều làm nên sự đặc biệt trong hành trình của họa sĩ Đỗ Đức không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm hay sự công phu trong từng chi tiết, mà còn ở cách ông biến hội họa thành một kho lưu trữ văn hóa. Bộ tranh “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” chính là minh chứng sống động: nếu các nhà dân tộc học ghi chép bằng chữ viết, con số và sơ đồ, thì ông lại ghi chép bằng màu sắc, bố cục và đường nét. Các bức tranh mở ra thế giới của các tộc người miền núi, với những bộ váy áo rực rỡ, những hoa văn thấm đẫm truyền thuyết, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng.
Vẽ để thống kê được sắc phục của các dân tộc trên khắp đất nước là mong muốn của họa sĩ Đỗ Đức. Dẫu chưa trọn vẹn, bộ tranh vẫn là một thành quả đặc biệt quý giá. Những bức tranh này có giá trị bảo lưu những bộ sắc phục cổ truyền đang dần biến mất, khi hàng may mặc thương mại tiện dụng đang lan tràn ở khắp nơi. Ví dụ bộ sắc phục Mông Hoa của người Mông Lai Châu mà họa sĩ Đỗ Đức ghi chép khoảng năm 1978, giờ đã mất dấu. Hiện nay đến Lô Lô Chải ở Lũng Cú, may ra có thể thấy người già còn những bộ áo quần cổ nhất, tuy đã cũ sờn theo thời gian…
Họa sĩ Đỗ Đức chia sẻ: “Nếu có một loạt hoa văn các dân tộc trộn lẫn, tôi có thể nhặt ra hoa văn của từng dân tộc”. Đó là kết quả của hàng chục năm đọc bản thảo, trao đổi với các nhà nghiên cứu, điền dã ở vùng cao, và quan trọng hơn cả là sống cùng đồng bào, lắng nghe họ kể chuyện về chính văn hóa của mình.

Trong dòng chảy toàn cầu hóa, khi đặc trưng bản địa dễ bị lấn át, bộ tranh của ông khơi gợi niềm tự hào về sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam; nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của trang phục truyền thống; đồng thời cung cấp nguồn tư liệu giá trị cho nghiên cứu văn hóa và dân tộc học./.
Sinh năm 1945, họa sĩ Đỗ Đức tốt nghiệp với bài thi “Chợ vùng cao” năm 1980, mở đầu cho sự nghiệp tranh khắc gỗ của mình. Ông gắn bó với giấy dó gần 30 năm, rồi tiếp tục thử nghiệm với sơn dầu, sơn mài.
Dù ở bất kỳ chất liệu nào, đề tài miền núi và các dân tộc thiểu số vẫn là mạch nguồn xuyên suốt trong sáng tác của ông. Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam và Bảo tàng Văn hóa các dân tộc
Việt Nam ở Thái Nguyên.