Du ký chùa Hương đầu thế kỷ XX: Ngày xuân theo dấu người xưa...

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 29/04/2021 07:12

Vùng đất thiêng, thắng cảnh chùa Hương - Hương Tích xứ Đoài (huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội) đã xuất hiện trong văn chương cổ kim với sự đóng góp của nhiều bậc thi bá nổi tiếng như: Trịnh Sâm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính… Nói riêng vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, với xu thế hội nhập Đông - Tây và sự phát triển vượt bậc của chữ Quốc ngữ cùng văn học hiện đại, di sản văn hóa tâm linh chùa Hương trở thành đối tượng của nhiều tác phẩm du ký xuất sắc, lan tỏa rộng khắp ngoài Bắc trong Nam. 

“Ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”

Chưa đầy hai năm sau khi tạp chí ra đời, Phạm Quỳnh (ký Thượng Chi) đã cho in du ký “Trảy chùa Hương” (Nam phong, số 23, tháng 5/1919, tr.3-14) vừa thể hiện sự hiếu kỳ, niềm vui khi du ngoạn, khám phá một điểm di tích danh lam thắng cảnh, vừa sớm có những ý kiến đề xuất về cách thức tổ chức, điều hành hoạt động lễ hội tâm linh, du lịch thực sự có văn hóa, khoa học “cả thảy hết hai ngày rưỡi ba đêm”… Ở đoạn mở đầu, học giả Phạm Quỳnh, 26 tuổi nêu những suy tưởng về Phật giáo, nhấn mạnh phương diện nhân văn, ý nghĩa thanh lọc, khả năng cứu rỗi tinh thần của tôn giáo nói chung nhưng cũng tỏ rõ thái độ với lối buôn thần bán thánh, lễ bái theo kiểu mê tín dị đoan, đồng thời bày tỏ chính kiến của mình vừa trong tư cách một con người cá nhân, một chúng sinh và một học giả: “Bình sinh vốn ưa sách Phật, mến mùi thuyền, những lúc chán ngán nỗi đời tưởng giá đem gửi mình ở chốn am thanh cảnh vắng cũng ngoan”...

Với tầm quan sát và tư duy phân tích của một ký giả, học giả và nhà du lịch, Phạm Quỳnh vừa mô tả những điều tai nghe mắt thấy vừa đưa ra những lời nhận xét, bình phẩm: “Đến nửa đường thời có đền Trình, ở dưới chân núi, về bên tay phải lối đi vào; đấy là thờ các vị sơn quân canh rừng núi, giữ cửa chùa, ai vào chùa phải tới đấy trình diện trước nên gọi là “đền Trình”. Tức như vào cửa quan lớn phải hỏi cậu lính hầu vậy. Bọn mình cũng ghé thuyền lên đưa danh thiếp cho các cậu “ba mươi” xin vào hầu bà Công Chúa (vì đức Bà Quan Âm theo tục truyền thủa bình sinh tức là con gái vua)”…

Sau khi thăm viếng những đền Trình, Thiên Trù (“bếp trời”, Chùa ngoài), qua khu “chùa Trong”, giếng Giải Oan, Cửa Võng, Trấn Song, lên đến động Hương Tích, nhà hoạt động xã hội trong Phạm Quỳnh lên tiếng phản biện: “Mới thò đầu vào chỉ thấy khói hương xông sặc ngào ngạt, nước mắt nước mũi chan chứa, không nhận ra người vật gì cả, chỉ trông lố nhố một lũ bóng nhấp nhô như trên màn chớp ảnh vậy. Lại thêm tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng pháo, tiếng xóc thẻ, tiếng cầu khấn, rộn rịp om sòm, thật là rức óc đinh tai. Cái cách thờ cúng của người mình cũng kỳ thay. Hình như thần Phật là của chung, đi lỡi được nhiều được phúc nhiều, nên tranh nhau mà cầu lỡi, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương, mỗi người làm như vậy, thành ra đám họp chợ, không phải là nơi cầu nguyện. Ôi! Cái lòng tín ngưỡng của người mình phát biểu ra một cách thật là thô bỉ sỗ sàng thay!”… 

Đến đoạn kết chuyến du ngoạn, Phạm Quỳnh thêm một lần chiêm nghiệm và nhấn mạnh cảm xúc: “Khi trở ra chùa ngoài thời trời đã về chiều, khí đã mát mẻ. Đi xuống không nhọc bằng trèo lên. Khi lên thời mỗi bước như phải nâng cả mình lên, nên chồn chân và mỏi vế; khi xuống thời cứ thuận dốc mà như ở trên đẩy người xuống, đi mau lắm. Ra gần đến chùa ngoài thời trông thấy dãy núi ở bên tay trái có mấy lớp nhà cao làm kiểu Tây, cheo leo ở sườn núi, đứng xa tưởng cái nhà mát của người Tây nào. Hỏi ra mới biết rằng đấy là “chùa Tiên”, trên cũng có cái động nhỏ, cái nhà Tây có lầu đó tức là nhà “khách sạn” tiếp phụ vào chùa. Động với nhà cũng tầm thường cả, không có gì là đẹp, nhưng đứng trên ấy rộng trông được cả khắp miền núi non đó, thứ nhất là gồm được cả cái qui mô của “chùa ngoài”, kể cũng đã to lớn thật. Lại đứng đấy mà ngắm con đường vào “chùa trong”, thật như một dải lụa vòng quanh núi, mà người đi là một lũ kiến bò”...
Nhìn chung, có thể coi du ký Trảy chùa Hương của Phạm Quỳnh đã hòa quyện phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nghệ sĩ, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, hiểu rõ hơn về một thời Hương Tích - xứ Đoài - Hà Nội... 

Du ký chùa Hương đầu thế kỷ XX: Ngày xuân theo dấu người xưa...
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt...
“Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt”

Vào đúng mùa xuân năm Tân Dậu (1921), Thư ký phủ Thống sứ Bắc Kỳ Lê Đình Thắng sau chuyến du ngoạn cảnh núi Sài Sơn cùng thuộc vùng phủ Quốc Oai đã có ghi chép bài ký “Chơi chùa Thầy” (Nam phong tạp chí, số 48, tháng 6/1921). Là người từng qua thăm chùa Hương nên ông có thể nhận xét, so sánh: “Đường lên một bước một cao, khác nào như thể lúc vào Thiên Thai. Đường lên chùa Thầy khó hơn đường vào động Hương Tích. Phải trèo, phải vịn cẩn thận mới lên được”; đi sâu miêu tả: “Trong động có suối nước trong, có rồng phun nước. Động cũng giống như chùa Giải Oan, động Hương Tích nhưng lối lên động thời khó lên lắm. Chỉ có một cái thang nhỏ bắc lên, lên đến nơi phải bò rạp sát mình xuống đá mới vào được; vô ý trượt chân ngã thời có sự nguy”. Đồng thời, ông còn mở rộng liên hệ, nhắc nhớ “liên văn bản” với thơ Cao Bá Quát đề vịnh chùa Hương: “Đến nơi trông thấy hang sâu quá, ai đều rợn gáy; dẫu có can đởm đến đâu cũng phải rùng mình, hang sâu thăm thẳm không biết đâu là đáy, tối mò mò; không có ai dám đứng trước cửa hang, nhỡ sa chân thời khó mà lên được. Trông thấy hang này lại nhớ đến mấy câu của cụ Chu Thần vịnh hang Hương Tích: 

Thăm thẳm một hang 
lồng bóng nguyệt,
Gập ghềnh mấy lối 
uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi 
ai đây,
Hay tạo hóa đã ra tay 
xếp đặt”…

Du ký chùa Hương đầu thế kỷ XX: Ngày xuân theo dấu người xưa...
Trảy hội chùa Hương

Một cách tương đồng với Lê Đình Thắng, nhà Hán học Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục kể rõ sau tiết Thanh minh, tháng mộ xuân, đầu năm Nhâm Tuất, Khải Định thứ bảy (1922) đã đến thăm núi Tử Trầm, sau đó viết thiên du ký Du Tử Trầm sơn ký (Nam phong tạp chí, số 59, tháng 5/1922, tr.392-401). Bên cạnh nhận định: “Xét ra hang Tử Trầm này thực là một nơi thắng tích ở thượng đô, cùng với hang Sài Sơn, hang Hương Tích cùng làm cái phong cảnh hay hớm lạ lùng chỗ dải con sông Hát vậy”, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục có thêm bài thơ Nghĩ đề Tử Trầm sơn Long Tiên đỗng, trong đó đặt cảnh quan chùa Hương - Yên Sơn - Chúc Sơn - Sở - chùa Thầy - sông Hát vào tổng thể non nước xứ Đoài:

Cảnh mới Hà Đông 
xem đỗng này,
Yên Sơn hang cũ đấy là đây. 
Sao miền đê Chúc miền 
non Sở,
Mà cảnh chùa Hương cảnh 
chợ Thầy?
Mây gắt rừng Tây phương 
Phật tía,
Đò êm sóng Hát nước 
Hằng đầy.
Chơi đây nòi giống 
tiên rồng cả,
Người hễ hay thời núi 
cũng hay”…

Huyền bí chuyện cầu tự

Đặc biệt hơn, từ Nam Bộ, ký giả Kim Oanh Nguyễn Háo Đàng (em ruột danh sĩ, nhà báo Nguyễn Háo Vĩnh, 1893 - 1941) đã ra thăm và viết du ký Chùa Hương Tích in trên Công luận báo (Sài Gòn, số 606/21, ra ngày 20/7/1923, tr.3) với tựa đề “Lời kính dâng - Tôi xin dâng mấy hàng dưới cho mẹ tôi đặng nhắc cho mẹ tôi nhớ cái cảnh mẹ tôi đã viếng năm xưa”... Trong du ký này, Kim Oanh Nguyễn Háo Đàng tích hợp thêm hai bài hát nói của Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh và tích truyện Phật Bà Quan Âm đầu thai làm con gái vua Trang Vương tu hành đắc đạo ở chùa Hương Tích. Sau đoạn dẫn giải, ký giả mô tả: “Trong động thì thờ hai mươi vị Phật toàn bằng đá. Gần đó có một hòn đá tròn và cao nghệu, người ta gọi là “Bịch thóc tiên” (vựa lúa của tiên). Lại có nhiều hòn đá nhỏ nhỏ giống như hình heo nằm lển nghển, người ta gọi là “Chuồng lợn (heo) tiên”. Trong động lại có một cái hang tối tắm lắm, người ta nói là chỗ tiên để tầm nên gọi là “nhà tầm tiên”. Động này là chánh để thờ Phật Quan Âm”...

Nhấn mạnh đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tâm thức cầu tự và đặc tính hỗn dung văn hóa, Kim Oanh Nguyễn Háo Đàng diễn tả sinh động lệ tục cầu tự: “Phần nhiều người đi cúng chùa đặng cầu con. Thường đi cầu con thì phải đi đủ hai vợ chồng. Trong động có hai hòn đá giống hai đứa bé con đang ngồi. Hễ muốn cầu con trai thì lại sờ đầu hình bên hữu và vái rằng: “Rước cậu, cậu về với tôi mua bánh cho cậu ăn nhé!”, còn muốn cầu con gái thì sờ đầu hình bên tả và lại vái: “Rước cô, cô đi về ở với tôi, rồi mua bánh cô ăn nhé!”… Tục truyền rằng khi khẩn cầu được rồi thì trong bụng trở nên nặng nặng như hình có con vậy. Bởi cớ ấy nên hễ đi cầu con, đến lúc trở về bất kỳ đi xe cộ, hay là đi qua đò chi đều phải trả hai chỗ ngồi cả! Trả cho người mẹ và trả luôn cho cô hay cậu đi theo về làm con ấy. Tục lại truyền rằng hễ mình đến cầu con được rồi, sau khi sinh ra phải dắt đứa nhỏ đó cho nó viếng động và mình lạy Trời Phật chứng lòng thành của mình, gọi là “trả lễ”…”  Đồng thời tác giả còn nhấn mạnh thực tế mối quan hệ giữa đạo và đời, cảnh quan thiên nhiên với đời sống tâm linh và nhu cầu xã hội: “Trong chùa có bán đủ hương đăng, trà quả và nhất là có bán áo quần con nít có đóng ấn của chùa. Người ta truyền rằng hễ mua đồ ấy về cho con nít bận thì tà ma quái quỷ chẳng dám khuấy nhiễu chúng nó. Bổn đạo giàu có, thấy cảnh lịch đến viếng chơi, hoặc người đến cầu được con, đều cúng nhiều số tiền to lắm. Nhờ đó mà sửa sang chùa và động một ngày một đẹp… Cách động Hương Tích chừng 300 thước tây người ta mới tìm được một cái động nữa. Động này cũng thờ Phật Quan Âm, trong động có nhiều tượng cốt bằng đá và nhiều hình bằng đá rất đẹp”... 

“Hay hay đáo để…”

Qua hơn mười năm, ký giả Hà Đông có bài “Chẩy hội Chùa Hương” (Công luận báo, Sài Gòn, số 6515, ra ngày 16/4/1934, tr.2) xác định mùa lễ hội và chỉ vẽ lối đi: “Hai hôm chúa nhựt và thứ hai vừa rồi, nhơn ngày lễ Pâques các sở đều được nghỉ việc, lại nhằm vào ngày vía đức Phật Quan Âm nên thiện nam tín nữ các nơi chảy hội cực kỳ đông. Từ đầu hội đến giờ chỉ hai hôm lễ Pâques là số người chẩy hội đông đến thế. Nhứt là người Hà thành, người thì đi ô tô hãng, người đi xe nhà, xe thuê, người đi đường thủy lối Phủ Lý, tấp nập không thấy lúc nào trên bến đò suối ngớt khách. Các bác chở đò, các bác nhà trọ được một bữa đại phát tài”, có ý chê trách bọn lý dịch sở tại “ngồi kiểm soát thập phương cúng tiền”, “thu tiền cúng”, “còn làm nhiều điều tệ lắm” và mỉa mai hành vi đề chữ thô thiển: “Lại còn một điều nữa là nhiều ngài quá mến cảnh chùa, cao hứng đề tên họ đè cả lên bức hoành “Nam thiên đệ nhất động”. Chắc hẳn các ngài muốn quý tánh cao danh sẽ cùng động Hương Tích muôn năm cùng thọ, nhưng thiếu gì chỗ viết, sao lại viết đè lên một tấm hoành cổ tích như vậy? Thật là một điều tối bậy vậy”...

Tiếp tục in liền ba kỳ trên Công luận báo ở Sài Gòn (tháng 3/1936), ký giả Hà Đông Hiệp Sĩ có lời đề từ “Những điều mắt thấy tai nghe ở động Hương Tích” và lôi cuốn người đọc bằng diễn ngôn hòa đồng, đồng nhất tác giả - độc giả (ta, chúng ta, bọn chúng ta) và dẫn giải: “Chùa Hương chỉ gồm một đoàn những chùa, những động ở dãy núi Hương Sơn thuộc hạt Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông, Bắc Kỳ. Tục truyền rằng đó là nơi Phật Quan Âm tu luyện thành Phật, nên người ta tin rằng đó là nơi mà người ta kêu cầu làm sao đều được Phật phù hộ cho trúng như vậy… Sự tin tưởng ấy chắc chắn, mạnh mẽ lắm, đã xô đẩy hàng ngàn, hàng vạn người dân, bất cứ đàn ông, đàn bà, giàu nghèo, sang hèn, tấp nập, lũ lượt kéo nhau tới nơi “linh tích” ấy, mỗi năm trong mấy tháng xuân, để cầu xin Phật nào Phúc, nào Lộc, nào Thọ… Vậy, thế các Ngài cũng bằng lòng đi chùa Hương chứ? Nào, chúng ta cùng thuê chung nhau một chiếc xe hơi ở một hãng thuê xe hơi Hà Nội, nếu chúng ta không ai có một chiếc xe hơi nhà”...

Từ đây tác giả đặc tả cảnh đi đò Suối Yến, Yến Vĩ với tất cả tâm trạng hiếu kỳ, vui thích, lo toan đời thường: “Kìa hàng năm bảy chục chiếc đò đỗ liền nhau như lá tre đang chực hàng ba, bốn… mươi bọn như bọn chúng ta xuống đò đi thăm chùa lễ Phật. Ngài đừng lắc đầu chê đò nhỏ. Mỗi chiếc đò dài và nhỏ như vậy mà người ta bắt nó mang nổi tới 4, 5 chục người. Ngài cũng đừng ngại đò chật quá! Đò đông thì đi ngay. Chiếc nào vắng thì họ đợi bao giờ đông khách mới nhổ sào đi đấy! Ngài đừng do dự nữa. Vì không đi đò, thì chúng ta không còn có cách nào đi tới chùa Hương. Thì chúng ta xuống đò. Ngồi đò, chúng ta có cái cảm tưởng đi xe hơi đó. Nghĩa là người ta có thể “ấn” được bao nhiêu người trong một chiếc đò thì người ta “ấn”, chẳng lo gì nặng, chẳng lo gì đắm đò”… Tác giả cũng khắc họa sắc nét cảnh quan và thực trạng chuyến đò chẩy hội giữa bến sông: “Chúng ta nếu thấy đò ta ngồi đi chậm hơn các đò khác nó vượt trước hoài, ta cũng đừng khó tính giục các cô hay bác lái. Đò ta to hơn một chút và đông người gấp đôi, đi nhanh hơn làm sao được. Cầu cho chúng ta khỏi bị ướt là may lắm rồi. Vả chăng ta có giục họ cũng uổng mà thôi. Những người chở đò ở đây có quyền lắm, nghĩa là họ có đủ lễ phép mời khách đi đò, khi đang lênh đênh ở giữa dòng suối “xuống” đi đò khác nếu hành khách có tỏ ý phàn nàn rằng đò đi như bò vậy. Trái lại, họ lại trách ta không niệm Phật nên đò đi chậm. Thôi ta để mặc cho đò đi. Ngước mắt lên nhìn quanh tứ phía, thì ta thấy núi non trùng trùng điệp điệp xa xa vây kín hết ba bề. Cảm tưởng của ta là cảm tưởng của người xưa lạc lối suối đào, hay hay đáo để. Chỉ khác là suối đây như một cái rạch con ở giữa làn ruộng chiêm đầy nước, chớ hai bên bờ không có núi, rừng chi”...

Bên cạnh những nhận xét, góp ý, phê phán kẻ khoe chữ, buôn thần bán thánh nơi đền miếu, danh thắng, Hà Đông Hiệp Sĩ tỏ ra tự hào, hoan hỷ trước vẻ đẹp thiên tạo và nhân tạo, giá trị nhân bản và chiều sâu văn hóa: “Đi sang bên kia, ta vào một nơi thờ rất tráng lệ, nguy nga. Tượng Phật không có mấy, ở giữa có ba pho tượng thánh mẫu. Đây là điện Mẫu, thờ bà chúa Liễu và nhiều vị khác. Tiếng đàn ngọt, hát hay làm cho chúng ta phải dừng chân lại một lúc lâu, sau khi đã xem ngắm hết một lượt những hoành phi, câu đối, những đồ thờ… Người ta hát văn. Người hát là một người đàn bà trông như một ả ca nhi. Người đàn ông đánh đàn có ngón đàn một tay tài tử… Dầu sao khi xem xét qua cảnh chùa này, chúng ta cũng cho là cảnh chùa đồ sộ, vĩ đại có một ở Bắc Kỳ. Vì chùa Thiên Trù hoặc gọi là chùa Trò là một nếp chùa nhân tạo ở sườn một ngọn núi, nơi mà đường vận tải khó khăn vô cùng. Đứng trước cảnh chùa lớn lao, kiến trúc công phu này, ta nghĩ thầm rằng câu “Xây lâu đài bên Y Pha Nho” gần như vô nghĩa vậy”...

Bên cạnh sự hòa đồng, tán thưởng phong cảnh thiên nhiên và quang cảnh lễ hội, tác giả vẫn chú ý quan sát và trực diện phê phán, bộc lộ thái độ trước những điều bất như ý, trái tai gai mắt: “Trên đường vào động Phật Tích, người đi tấp nập như mắc cửi cả ngày. Thôi thì đủ hạng: già, trẻ, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, trẻ con, ai nấy đều chăm chỉ leo dốc và niệm Phật. Lòng mộ đạo hiện ra nét mặt và lời nói của họ một cách rõ ràng. Nhưng ta lấy làm buồn khi thấy họ quên bẵng những kẻ ăn xin bệ rạc. Và ta lấy làm đau lòng hơn nữa khi gặp mấy bà béo tốt giàu sang ngồi chễm chệ trên cái ghế “fauteuil” do bốn người khiêng như khiêng kiệu”...

Tầm tầm một thế kỷ đã dần qua. Chính nhờ các trang du ký mà hình ảnh chùa Hương đã được biết đến khắp trong Nam ngoài Bắc. Có thể coi các thiên du ký trên là những trang sử bằng ngôn từ nghệ thuật, trong đó tái hiện trung thành hình ảnh cuộc sống, cảnh vật, danh lam thắng tích gắn với chùa Hương và một vùng văn hóa xứ Đoài. Giữa ngày xuân, nhờ qua các trang du ký, một ai đó có thể lần theo dấu người xưa, lần theo từng địa điểm trên con đường lữ du của thế hệ cha ông để so sánh, kiểm chứng những đổi thay nơi chùa Hương đã qua một thế kỷ... 
(0) Bình luận
  • Trưng bày “Tâm son, chí thép”: Lan tỏa các giá trị cao đẹp về lực lượng Công an nhân dân Việt Nam
    Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2026), Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tổ chức trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (phường Cửa Nam, TP Hà Nội).
  • Xiaomi 17T và công thức cận flagship dành cho người thích camera Leica
    Xiaomi 17T là một trong những mẫu máy đáng chú ý của Xiaomi T Series khi tập trung vào camera Leica, màn hình đẹp, pin lớn và hiệu năng mạnh trong tầm giá cận flagship. Với người dùng muốn một chiếc điện thoại phục vụ tốt chụp ảnh, giải trí, học tập và làm việc, Xiaomi 17T mang đến nhiều điểm đáng cân nhắc.
  • Chụp ảnh cưới ‘All In One' tại Mimosa Wedding
    Trong bối cảnh ngành dịch vụ cưới ngày càng phát triển, vô hình trung nỗi lo của khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhiều hơn. Thực tế này đang thúc đẩy một làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của các cặp đôi sang mô hình dịch vụ trọn gói (All in one). Bên cạnh yếu tố tiện lợi, thế hệ trẻ hiện nay cũng khắt khe hơn về mặt thẩm mỹ, họ hướng tới sự cá nhân hóa, cảm xúc chân thực và từ chối các khuôn mẫu rập khuôn có sẵn khi tìm kiếm dịch vụ chụp ảnh cưới đẹp ở Hà Nội.
  • Triển lãm "Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử": Không gian nghệ thuật tôn vinh đạo học Việt Nam
    Hướng tới kỷ niệm 950 năm ra đời Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076 - 2026), chiều 27/5, triển lãm nghệ thuật “Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử” đã khai mạc tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
  • "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" giới thiệu 20 tác phẩm hội hoạ của vua Hàm Nghi tại Hà Nội
    Từ 24/4 đến 10/5, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Triển lãm "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" – do Art Nation giới thiệu, quy tụ các tác phẩm hội họa tiêu biểu của vua Hàm Nghi.
  • Triển lãm ảnh “Hà Nội trong tôi” 2025: Hà Nội trong Kỷ nguyên vươn mình
    Sáng 8/10, Báo Kinh tế & Đô thị phối hợp với Câu lạc bộ Nhiếp ảnh người cao tuổi Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc Triển lãm ảnh “Hà Nội trong tôi” lần thứ 20 - năm 2025 với chủ đề “Hà Nội trong Kỷ nguyên vươn mình”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giá trị hồ Gươm và khu vực phụ cận, cùng cánh cửa tương lai
    Theo tiến trình lịch sử, hồ Gươm (phường Hoàn Kiếm, TP Hà Nội) và khu vực phụ cận đã có những sự thay đổi, nhưng giá trị về văn hóa, lịch sử của hồ Gươm – “viên ngọc” giữa lòng Thủ đô cùng khu vực phụ cận sẽ mãi mãi còn lại với người dân Hà Nội nói riêng, cả nước nước chung.
  • "Nét Hà thành" kể câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài
    Ngày 11/9, Trung tâm Hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc chương trình "Nét Hà thành - Câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài", mở đầu chuỗi hoạt động, sự kiện Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026.
  • Tọa đàm “Lửa trên đường ray”: Ký ức không quên của những người giữ mạch đường sắt thời chiến
    Sáng 10/9, tại Bảo tàng Hà Nội tổ chức tọa đàm “Lửa trên đường ray”, trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026. Chương trình là dịp gặp gỡ, đối thoại giữa những nhân chứng từng gắn bó với ngành Đường sắt trong chiến tranh và thế hệ hôm nay, qua đó tái hiện một phần ký ức về những chuyến tàu vượt qua bom đạn, những người bám máy, bám đường và hành trình đưa đầu máy xe lửa hơi nước 141-179 về Ga di sản Bảo tàng Hà Nội.
  • Phường Việt Hưng lấy ý kiến Nhân dân về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Thực hiện Kế hoạch của Thành ủy Hà Nội; Sở Xây dựng Hà Nội và Kế hoạch của UBND phường Long Biên; UBND phường Việt Hưng (TP Hà Nội) tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở) và Phương án tuyến, vị trí công trình theo tuyến dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
  • [Ảnh] "Bữa tiệc" nghệ thuật trong đêm khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội 2026
    Tối 11/9, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 chính thức khai mạc với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow". Bằng âm nhạc, ánh sáng và công nghệ, chương trình như "bữa tiệc" nghệ thuật giàu cảm xúc đã đánh thức không gian di sản Hoàng thành Thăng Long.
Đừng bỏ lỡ
  • [Video] Festival Thăng Long - Hà Nội 2026: Động lực mới phát triển Thủ đô từ “Dòng chảy di sản”
    Tối 11/9, tại Hoàng thành Thăng Long, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy Di sản - Heritage Flow” đã chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động văn hóa kéo dài từ ngày 11 đến 20/9 tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Thủ đô.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Màu của gió (Kỳ 1)
    Gói bưu phẩm nhân viên bưu điện chuyển đến nhà tôi là cuốn tiểu thuyết có tên: Màu của gió, của tác giả Lam Thùy. Bức tranh trang trí bìa vẽ theo trường phái lập thể khá hiện đại, nhìn bắt mắt. Tôi mở Facebook, vào trang của Thùy, nhắn tin hộp thư messenger: “Cảm ơn em đã tặng sách. Tôi rất vui vì em vẫn tâm huyết với văn chương. Em đang ở đâu?”...
  • "Văn hóa hành động" – nền tảng đưa nghị quyết vào cuộc sống
    Sáu Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng của Bộ Chính trị vừa được Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội định hướng thông tin, tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện trên địa bàn Thủ đô. Đằng sau những nội dung về công tác tư tưởng, đội ngũ cán bộ, người Việt Nam ở nước ngoài, phát triển vùng, du lịch và học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu xuyên suốt: biến nhận thức thành hành động, biến chủ trương thành những chuyển biến cụ thể trong đời sống xã hội.
  • Những thanh âm đa sắc trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 13/9
    Vào 17h ngày 13/9, tại Nhà Bát giác, NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club sẽ mang đến một chương trình âm nhạc với nhiều cung bậc cảm xúc, từ những giai điệu thân thuộc về Hà Nội đến các tác phẩm jazz kinh điển.
  • Lan tỏa những giá trị đẹp của văn hóa và con người Hà Nội
    Hướng tới kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), Lễ trao Giải Báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ IX - năm 2026 dự kiến được tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô. Không chỉ là sự kiện tôn vinh những tác phẩm báo chí xuất sắc, Giải còn là nơi ghi nhận những nỗ lực của báo chí trong việc phát hiện, phản ánh và lan tỏa các giá trị văn hóa, những nét đẹp trong đời sống và ứng xử của người Hà Nội.
  • Tái hiện hai thập niên tân nhạc Hà Nội qua 102 bản nhạc và tư liệu quý
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026, vào lúc 18h ngày 12/9/ 2026, Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội - Bảo tàng Hà Nội sẽ tổ chức khai mạc chương trình trưng bày và tọa đàm Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934 - 1954). Đây là hoạt động chuyên đề nhằm tôn vinh những giá trị của nền tân nhạc Hà Nội trong giai đoạn hình thành và phát triển từ năm 1934 đến năm 1954, đồng thời góp phần lan tỏa di sản âm nhạc của Thủ đô đến với đông đảo công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
  • [Podcast] Tản văn: Hành trang tháng Chín
    Tháng Chín, ánh nắng nhẹ nhàng lướt qua khung cửa sổ, báo hiệu một mùa tựu trường nữa đã đến. Những cô cậu học trò lại háo hức chuẩn bị hành trang cho một năm học mới. Ở quê, những đứa trẻ lớn lên từ bùn đất, lấm lem...
  • Chùm thơ của tác giả Lê Hồng Thiện
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Lê Hồng Thiện.
  • Hứa hẹn “quả ngọt” từ việc điều chỉnh cục bộ Quy hoạch khu vực hồ Gươm và vùng phụ cận
    UBND phường Hoàn Kiếm và UBND phường Cửa Nam (TP Hà Nội) đang phối hợp tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với phương án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B, H1-1C, kết hợp giải pháp quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 nhằm cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực hồ Gươm và vùng phụ cận.
  • Phường Hồng Hà lấy ý kiến Nhân dân về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    UBND phường Hồng Hà (TP Hà Nội) tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở), thông qua hình thức trực tuyến và trực tiếp tại 5 điểm niêm yết trên địa bàn phường. Thời gian phường Hồng Hà lấy ý kiến Nhân dân từ ngày 7/9 – 26/9/2026.
Du ký chùa Hương đầu thế kỷ XX: Ngày xuân theo dấu người xưa...
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO