Đồng chí Đỗ Mười - Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp Đổi mới

06/10/2018 09:33

Báo Người Hà Nội trân trọng giới thiệu bài viết của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có tựa đề "Đồng chí Đỗ Mười - Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp Đổi mới".

Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt đời tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, đồng chí Đỗ Mười đã có những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Đồng chí Đỗ Mười tham gia hoạt động trong Cao trào cách mạng Dân chủ, năm 1939 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và bị giam tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, đồng chí vượt ngục thành công, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông và được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông.
Đồng chí Đỗ Mười - Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp Đổi mới
Tổng Bí thư Đỗ Mười với các đại biểu dự Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6-1991). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đồng chí giữ các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam; Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Nam Định; Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; Khu ủy viên Khu ủy Khu III, phụ trách 2 tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình; Phó Bí thư Liên khu ủy III kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu III, Chính ủy Tư lệnh Liên khu III; Bí thư Khu Tả ngạn sông Hồng, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính và Chính ủy Quân khu Tả ngạn sông Hồng. Đây là những địa bàn chiến lược trọng yếu, dưới sự chỉ huy của đồng chí Đỗ Mười, quân và dân Quân khu Tả ngạn đã làm thất bại nhiều chiến dịch quân sự của địch, trong đó có trận tập kích vào Sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đốt cháy hàng chục máy bay địch, góp phần vào thắng lợi của dân tộc.

Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí Đỗ Mười được phân công giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, đứng đầu nhiều cơ quan bộ, ngành và Chính phủ. Trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong hơn 20 năm (1965-1986), đồng chí được giao phụ trách nhiều công việc quan trọng: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; giải tỏa thủy lôi Cảng Hải Phòng; Trưởng ban Chi viện cho miền Nam; trên các công trường trọng điểm của Nhà nước... nơi nào đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời là đồng chí có mặt.

Sau chiến thắng Mùa Xuân 1975, cả nước thống nhất, cùng với niềm vui khải hoàn dân tộc, là những khó khăn bộn bề sau cuộc chiến. Tiếp đó là hệ quả nặng nề của cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền (tháng 10-1985); những bất cập trong quản lý kinh tế - xã hội, trong chính sách đối ngoại… tác động mạnh đến mọi mặt của đời sống xã hội. Sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, phải sử dụng nguồn vốn vay và viện trợ của nước ngoài bù đắp một phần cho tiêu dùng. Là một nước nông nghiệp, sản xuất lúa gạo, nhưng lương thực không đủ ăn, lạm phát trầm trọng, đời sống của nhân dân hết sức khó khăn. Những hạn chế trong cơ chế quản lý kinh tế đã kìm hãm tính năng động, sáng tạo của người dân, cơ sở sản xuất. Nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đình đốn, thua lỗ, thậm chí phải đóng cửa; số lượng lớn công nhân thất nghiệp. Hiệu lực quản lý nhà nước sút kém. Những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và dòng người di tản ra nước ngoài tiếp tục gia tăng, gây nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, làm xáo động nhân tâm và là cái cớ để các thế lực phản động chống Việt Nam dưới chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”. 

Tình hình đất nước đặt ra cho những người cộng sản Việt Nam phải giải quyết thách thức của lịch sử: “Đổi mới hay là chết”. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ tháng 9-1988 đến tháng 6-1991), đồng chí Đỗ Mười đã cùng tập thể Bộ Chính trị, đứng đầu là cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh xây dựng đường lối đổi mới, đưa ra những quyết sách mang tính bước ngoặt: Chống lạm phát; Xóa bỏ bao cấp về kinh doanh lương thực, xuất khẩu, chính sách thuế, thay đổi giá và tỷ lệ giá hối đoái, tính lại tiền lương, quy định lãi suất ngân hàng...

Thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí Đỗ Mười lãnh đạo Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo triển khai quyết liệt nhiệm vụ chống lạm phát, tăng cường sản xuất và khai thác mọi nguồn hàng phục vụ tiêu dùng, cải thiện đời sống nhân dân; từng bước đổi mới cơ chế kế hoạch hóa, tạo quyền chủ động cho các cơ sở sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, đi dần vào hạch toán kinh doanh, gắn sản xuất với thị trường; điều hòa cung cầu ở tầm vĩ mô. 

Để chống lạm phát, có nhiều ý kiến đưa ra để Chính phủ xem xét, áp dụng. Theo Tổ chức Tiền tệ quốc tế (IMF) tính toán, phải có ba tỷ đô la mới giải quyết được lạm phát. Ba tỷ đô la lúc bấy giờ chúng ta lấy đâu ra? Đồng chí Đỗ Mười chỉ đạo: Chỉ có biện pháp duy nhất là phát huy nội lực, dựa vào dân, động viên nhân dân bằng lợi ích, để tạo ra những tiềm năng mới, đó cũng là tư tưởng của Bác Hồ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hội đồng Bộ trưởng đi đến thống nhất mấy vấn đề cần phải tập trung giải quyết và báo cáo Bộ Chính trị:

Trước hết, là đẩy mạnh sản xuất, thực hiện tiết kiệm và dồn trọng tâm chỉ đạo phát triển nông nghiệp; đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế khoán hộ. Kết quả làm cho sản xuất bung ra, giải quyết được căn bản vấn đề lương thực.

Hai là, khai thác mọi nguồn hàng trong nước và ngoài nước. Một giải pháp tình thế lúc bấy giờ là, ai ra nước ngoài thì khuyến khích mang hàng về. Nhà nước không đánh thuế. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng về rất nhiều, phần nào đáp ứng được yêu cầu bức thiết trong sinh hoạt của nhân dân. Nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời, để giải quyết tận gốc nạn khan hiếm hàng hóa tiêu dùng, phải tăng cường vận động nhân dân sản xuất, Nhà nước có các chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất.

Ba là, để thu hút tiền ở trong dân, Chính phủ chủ trương nâng lãi suất tiết kiệm từ 3% lên 9%, ngang với mức giá của hàng hóa; ai gửi ba tháng thì thêm 3% nữa là 12%. Lúc đầu đồng chí cho làm thí điểm ở Hải Phòng, sau đó nhân rộng ra cả nước. Do có chính sách khuyến khích tiền gửi, nhân dân yên tâm gửi tiền vào ngân hàng, tạo ra nguồn vốn phục vụ sản xuất.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ quy định nghiêm ngặt Ngân hàng chỉ được nhận tiền mặt và cho vay, tài chính chỉ thu mà chi, không in thêm tiền. Sau một thời gian, các chính sách kinh tế và tiền tệ của Chính phủ đã phát huy hiệu quả, đặc biệt là giảm lạm phát, từ chỗ lạm phát ba con số: 774% năm 1986, giảm xuống còn hai con số: 34% năm 1989; đến năm 1992 chỉ còn 14%.

Cùng với chống lạm phát, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đề nghị Bộ Chính trị và Trung ương đồng ý chủ trương xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, đưa hai giá về một giá... Đó là những vấn đề quan trọng, là cơ sở thực tiễn để Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Chiến lược kinh tế - xã hội 10 năm (1991-2000). Cương lĩnh của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” và “làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội”. Đó là những quan điểm, đường lối đúng đắn, thể hiện trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó sự đóng góp hết sức quan trọng của đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí đưa ra chủ trương phát triển mạnh mẽ công nghiệp nặng, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. 

Tháng 6-1991, khi đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng ta cũng là lúc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, sụt giảm niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước lúc này tuy đã được cải thiện một bước, nhưng vẫn đầy rẫy những khó khăn. Nền kinh tế vẫn còn mất cân đối về nhiều mặt, phát triển chậm. Ngân sách bội chi lớn; giá cả bấp bênh. Nhiều tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh bị vỡ nợ. Lao động thiếu việc làm, đời sống của một bộ phận dân cư gặp rất nhiều khó khăn. Văn hóa, xã hội nhiều yếu kém, tệ tham nhũng, tiêu cực lan tràn, trật tự an toàn xã hội rất phức tạp. Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền chống phá, ảnh hưởng bất lợi đến nước ta.

Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; kiên quyết đi theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Để tháo gỡ khó khăn, tiếp tục công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là phá thế bao vây cấm vận, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ; chủ động gia nhập ASEAN, mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng quốc tế. 

Thực hiện trọng trách cao cả đó, từ ngày 5 đến 10-11-1991, nhận lời mời của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc, đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước ta sang thăm chính thức Trung Quốc. Kết thúc chuyến thăm, hai bên đã ra Thông cáo chung khẳng định: “Cuộc gặp cấp cao Việt - Trung đánh dấu sự bình thường hóa quan hệ Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và có lợi cho hòa bình và sự phát triển của khu vực”. Đây là thành tựu ngoại giao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nước ta kể từ khi bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới.

Sau sự kiện bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, đồng chí đã chỉ đạo tích cực phối hợp với phía Mỹ giải quyết vấn đề quân nhân Mỹ mất tích. Với tinh thần nhân văn theo truyền thống của dân tộc, để “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”; “vì hòa bình, ổn định, cùng phát triển”, Việt Nam đã khiến phía Mỹ phải ghi nhận sự thiện chí, trên cơ sở đó, ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng, đánh dấu việc nước ta đã phá vỡ hoàn toàn thế bị bao vây, cấm vận. Từ đây, đất nước có điều kiện thuận lợi để mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài trong công cuộc chấn hưng đất nước. Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới” đã được triển khai bằng những hoạt động tích cực, sôi động trên lĩnh vực ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân, đưa lại hiệu quả to lớn cho đất nước. Không chỉ phá vỡ thế bao vây cấm vận, mà Việt Nam còn thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác với các đối tác trên cơ sở song phương và đa phương. Đó là thắng lợi hết sức quan trọng trên mặt trận ngoại giao, tạo tiền đề cho sự hợp tác toàn diện của đất nước ta với cộng đồng quốc tế, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Gần hai khóa làm Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười cùng tập thể Bộ Chính trị giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng trong lãnh đạo, điều hành đất nước. Nhiều đề xuất của cá nhân đồng chí như việc triển khai xây dựng “Quy chế dân chủ ở cơ sở”; “Phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”...; đều xuất phát từ thực tế khi đồng chí tiếp xúc với đồng bào, đồng chí hoặc các nhà lãnh đạo, chính khách nước ngoài; xuất phát từ nhiệt huyết, trí tuệ và tấm lòng vì nước, vì dân, những sáng kiến đó được nhân dân và bè bạn mãi mãi ghi nhớ.

Trên 80 năm hoạt động và phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc và lý tưởng cộng sản cao đẹp, đồng chí Đỗ Mười đã có những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí suốt đời tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, năng lực làm việc, tư duy nhạy bén, sáng tạo và kiên định lý tưởng cộng sản, với niềm tin mãnh liệt vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và tương lai tươi sáng của đất nước. Đồng chí là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực, luôn tuân thủ kỷ luật của Đảng; sống trung thực, giản dị, gần gũi, hòa đồng với quần chúng; tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng chí, của nhân dân. Với những hoạt động và cống hiến đối với Đảng, cách mạng và dân tộc, đồng chí Đỗ Mười đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cùng nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Tháng 12-1997, tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, sau 70 năm hoạt động cống hiến liên tục cho Đảng, cho cách mạng, đồng chí Đỗ Mười đã xin không tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Trung ương đã chấp thuận ý nguyện của đồng chí và đã suy tôn đồng chí làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trong suốt cuộc đời hoạt động và cống hiến cho Đảng, cho dân, đồng chí luôn thể hiện là người của hành động, luôn có mặt ở nơi đầu sóng ngọn gió, những nơi khó khăn ác liệt nhất, mạnh dạn, táo bạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, luôn đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết. Suy nghĩ và việc làm của đồng chí luôn thể hiện sự trăn trở của một công dân, của một nhà lãnh đạo, người đứng đầu của Đảng đối với sự nghiệp của đất nước, kể cả khi đã nghỉ hưu, sức khỏe đã yếu. Đồng chí chưa bao giờ bằng lòng với những gì đã làm được, không say sưa, ngủ quên với những thắng lợi mà luôn tìm tòi theo cách nghĩ khám phá, sáng tạo. Mỗi khi nhắc tới cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, khó khăn, phức tạp vì độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng chí coi đó là sự hy sinh của Đảng, của dân, điều đó chứng tỏ dân hết mình vì Đảng, giờ đây, Đảng phải làm gì cho dân để đáp lại sự hy sinh to lớn và vô giá đó của dân. 

Đồng chí Đỗ Mười luôn day dứt về nguy cơ tụt hậu của đất nước; về sự tăng trưởng dưới tiềm năng và vấn đề tận dụng cơ hội để bứt phá. Với tầm nhìn xa, tư tưởng nhân văn, đoàn kết, hòa hợp để chủ động khép lại quá khứ chiến tranh và hướng tới tương lai. Đó là tầm nhìn trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, đòi hỏi ý thức, cách làm của mỗi người phải tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, nhân cách và phong cách của người cộng sản chân chính với nhận thức rõ về kết hợp sức mạnh của thời đại và dân tộc. Theo đồng chí Đỗ Mười, đổi mới là sáng tạo, là biết khai thác, phát huy thế mạnh của đất nước, dân tộc, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam, vượt qua những trở lực về tư duy cũ kỹ, lạc hậu và phong cách lãnh đạo quan liêu, đem lại chất lượng cao cho công cuộc đổi mới và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Đỗ Mười là người luôn sát dân, sát cơ sở. Tháng 3-1989, khi biết tin Hợp tác xã nông nghiệp Duy Sơn II, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng làm được thủy điện với công suất nhỏ (0,4MW) vào thời điểm đất nước đang thiếu điện, đồng chí đã đến tận nơi, ra tận công trường nơi núi cao để thăm hỏi, động viên người lao động và bàn cơ chế hỗ trợ. Khi làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nghe tin Trường Học sinh miền Nam ở đây gặp nhiều khó khăn, xa cha mẹ, xa gia đình, đồng chí đã quyết định cấp thêm gạo, quần áo, chăn ấm để các em ăn no, mặc ấm. Những học sinh miền Nam học tập tại Hải Phòng mãi mãi ghi nhớ hình ảnh đồng chí Đỗ Mười, người lãnh đạo có tấm lòng nhân hậu.

Xuất phát từ tấm lòng yêu nước, trọng dân, thương dân, lòng tự hào dân tộc sâu sắc, đồng chí Đỗ Mười chủ động đến với nhân dân để hiểu dân, học dân, hỏi dân, bàn bạc với dân và tìm ra cách làm có hiệu quả nhất. Không giáo điều, rập khuôn, máy móc; miệng nói tay làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả làm thước đo, đồng chí Đỗ Mười đã làm đúng tinh thần lời dạy của Bác Hồ, người cán bộ khi nhận nhiệm vụ: “do nhân dân ủy thác thì phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”. 

Tấm gương cống hiến và hy sinh hết mình cho đất nước, cho nhân dân của đồng chí Đỗ Mười mãi mãi sáng ngời. Tên tuổi của đồng chí đã và sẽ trở thành tượng đài sống mãi trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam.

NGUYỄN XUÂN PHÚC

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Khu di sản Hoàng thành Thăng Long: Điểm đến hấp dẫn tạo lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Thủ đô Hà Nội có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa. Trong đó Khu di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long đã, đang từng bước được Hà Nội định hướng, phát triển thành điểm đến hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế.
  • Trưng bày chuyên đề "Thời thanh xuân từ đường Trường Sơn đến đường 1C huyền thoại"
    Ngày 25/8, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Ban Liên lạc Cựu cán bộ Đoàn Thanh niên Việt Nam phía Nam và Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức khai mạc trưng bày chuyên đề "Thời thanh xuân từ đường Trường Sơn đến đường 1C huyền thoại".
  • Gìn giữ những giá trị làm nên bản sắc văn hóa, lịch sử của Thủ đô
    Nhằm cụ thể hóa chính sách khuyến khích, hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị các khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 20/8/2026. Quy định được xem là cơ sở để nhận diện, bảo vệ và phát huy những giá trị góp phần tạo nên bản sắc văn hóa, kiến trúc và ký ức đô thị của Thủ đô.
  • Shining Moments 2026: Đêm diễn thăng hoa của 230 mẫu nhí và tâm huyết từ Happy Talent
    Bất chấp thời tiết không thuận lợi, khán phòng của Shining Moments 2026 vẫn chật kín khán giả. 230 "thiên thần nhí" đã cống hiến một đêm trình diễn thời trang mãn nhãn, tự tin khẳng định cá tính dưới sự dẫn dắt đầy tâm huyết của Trung tâm đào tạo Tài năng nhí Happy Talent.
  • Quy hoạch Hà Nội và khát vọng 100 năm
    Ngày 29/6/2026, UBND thành phố Hà Nội đã tổ chức sự kiện Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể thủ đô và khai mạc triển lãm quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là sự kiện được quan tâm không chỉ trong giới nghề mà còn là của những người Hà Nội và cả xã hội. Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm không chỉ là câu chuyện mở rộng không gian hay xây dựng những công trình hiện đại. Với Hà Nội – đô thị duy nhất của Việt Nam mang chiều sâu hơn một nghìn năm lịch sử – mỗi quyết sách hôm nay còn là lời cam kết với các thế hệ mai sau.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Tản văn: Dịu dàng Hà Nội vào thu
    Phố trở mình giã từ mùa hạ. Tháng nghiêng mình nhẹ bước vào thu. Bàn chân muốn chùng chình nhịp bước. Gió se se chút lạnh giao mùa.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • "Ký ức những năm tháng không quên" được tái hiện qua các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
    Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã chính thức khai mạc triển lãm chuyên đề "Ký ức những năm tháng không quên". Triển lãm kéo dài từ nay đến ngày 08/9/2026, mở ra một hành trình trở về quá khứ qua góc nhìn mỹ thuật hiện đại.
  • Nhiều hoạt động “Vui Tết Độc lập” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 29/8 đến 30/9/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề “Vui Tết Độc lập”, chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).
  • Để những giá trị di tích được gìn giữ và lan tỏa
    Di tích là những dấu tích vật chất và tinh thần gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, Hà Nội vừa ban hành quy định mới về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản lý thống nhất, phân cấp rõ trách nhiệm, phát huy vai trò của cộng đồng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý di tích.
  • Nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Ngày 24/8, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị triển khai về ứng xử văn minh du lịch và du lịch cộng đồng năm 2026.
  • Ra mắt phim điện ảnh “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”
    "Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh" lần đầu ra mắt khán giả tại Ninh Bình, vùng đất gắn với câu chuyện và quá trình thực hiện bộ phim.
  • Đưa nghệ thuật cải lương đến gần công chúng Thủ đô
    Tối 23/8, tại sân khấu Nhà Bát Giác, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng” của Nhà hát Cải lương Hà Nội đã mang đến cho người dân và du khách một đêm diễn đậm đà bản sắc văn hóa.
  • Những tác phẩm âm nhạc góp phần lan toả văn hóa Hà Nội
    Từ các ca khúc “Hà Nội mùa thu”, “Hoa sữa” đến những giai điệu của Charlie Parker, Miles Davis, Duke Ellington, Antonio Carlos Jobim... chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 23/8 tại Nhà Bát Giác đã đưa những thanh âm quen thuộc của Hà Nội bước vào không gian âm nhạc cộng đồng đầy tinh thần phóng khoáng và ngẫu hứng của jazz. Qua tiếng kèn của các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club và giọng hát của hai ca sĩ Thuỷ Bùi, Minh Thu, hình ảnh Thủ đô hiện lên vừa lãng mạn, vừa trẻ trung, cởi mở trong nhịp sống văn hóa đương đại.
  • Hà Nội chuẩn bị chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng những ngày lễ lớn
    Thường trực Thành ủy Hà Nội thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tuyên truyền, chăm lo các đối tượng chính sách nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời tổ chức 02 chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, hướng tới tạo không khí phấn khởi, vui tươi và khơi dậy niềm tự hào, khát vọng phát triển Thủ đô.
Đồng chí Đỗ Mười - Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp Đổi mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO