Đình Vạn Xuân
Đình Vạn Xuân nay thuộc làng Hạ Mỗ, xã Ô Diên là ngôi đình cổ hiện còn khá nguyên vẹn. Đây là nơi thờ Lý Bát Lang - con trai thứ tám của Hậu Nam Đế Lý Phật Tử (thời Tiền Lý), quê huyện Thái Bình (cũng là quê hương của Tiền Lý Nam Đế Lý Bí ở trang Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).
Theo “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, 1987): tháng 3 năm Mậu Thìn (548), Lý Nam Đế bị nhiễm lam chướng, lâm bệnh lâu ngày rồi mất tại động Khuất Lão. Trong khi đó, Triệu Quang Phục từ Dạ Trạch tiến ra, đánh đâu thắng đó. Sau khi Lý Nam Đế mất, quân sĩ tôn Triệu Quang Phục lên ngôi vua, thay Lý Nam Đế; Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương.

Từ năm 547 đến năm 550, sau bốn năm chiến đấu, Triệu Quang Phục đánh bại quân nhà Lương, chiến tranh kết thúc, Triệu Việt Vương vào thành Long Biên. Cùng thời điểm đó, Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế) bị Trần Bá Tiên đánh bại, phải rút lên vùng núi gần Ai Lao; đến động Dã Năng thì đóng quân, đắp thành để ở lâu dài, lập một nước riêng, lấy Dã Năng làm quốc hiệu và tự xưng là Đào Lang Vương.
Năm Ất Hợi (555), Lý Thiên Bảo mất, không có con nối quyền, Lý Phật Tử lên cầm quyền ở Dã Năng, thay thế Lý Thiên Bảo. Năm Đinh Sửu (557), Lý Phật Tử đem quân xuống phía Đông gây chiến với Triệu Việt Vương; năm lần giao chiến đều không phân thắng bại. Cuối cùng, hai bên giảng hòa, chia đất ở bãi Quân Thần (thuộc đất hai xã Thượng Cát, Hạ Cát, huyện Từ Liêm) làm ranh giới; Triệu Việt Vương vẫn làm vua, tiếp tục cầm quyền trị nước. Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm; sau thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng).
Năm Tân Mão (571), Lý Phật Tử bất ngờ đem quân đánh úp Triệu Việt Vương. Không kịp đối phó, Triệu Việt Vương phải chạy xuống phía Nam, tới cửa biển Đại Nha thì cùng đường, nhảy xuống biển tự vẫn. Lý Phật Tử nắm quyền, tự lập làm vua, xưng là Hậu Lý Nam Đế, coi Lý Bí là Tiền Nam Đế, đóng đô ở thành Ô Diên.
Cụ thể hơn, bản thần tích Lý Bát Lang do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (1572) cho biết: cha Lý Bát Lang là Hậu Nam Đế Lý Phật Tử, quê huyện Thái Bình. Mẹ là bà Liễn Nương, họ Đoàn, là cung phi thứ hai của Lý Phật Tử, quê xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương; sinh Lý Bát Lang ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (544). Trú quán: cung doanh tại thành Ô Diên, ấp Phú Lộc, huyện Từ Liêm.
Công trạng: giữ chức Đô tướng tiên phong trong cuộc chiến với Triệu Việt Vương, góp phần thu phục giang sơn về một mối. Lý Bát Lang mất ngày 12 tháng Tám năm Tân Mão (571) tại chính cung trong thành Ô Diên (nay là miếu Hàm Rồng, làng Hạ Mỗ). Sau ngày mất, theo lệnh vua Lý Phật Tử, nhân dân làng Hạ Mỗ, Thượng Mỗ lập đền thờ, tôn ông làm Thành hoàng. Làng Hạ Mỗ lập đền thờ tại chính cung của Bát Lang Công, tức miếu Hàm Rồng; về sau lập thêm đình, lấy tên là đình Vạn Xuân.
Đình Vạn Xuân nằm ở trung tâm làng, xây dựng theo hướng Tây Nam, giữ vị trí trung tâm đối xứng của hai ngôi đền Hàng Văn (Văn Hiến Đường) và đền Hàng Võ (Tri Chỉ Đường) ở hai đầu Đông Nam - Tây Bắc của làng.
Đình được xây cất trên khu đất rộng, thế quy vờn ngọc. Phía sau là một gò nhỏ áp tường nhà hậu phòng, nhô ra hồ bán nguyệt. Phía trước là sân rộng trên 600m²; tả mạc, hữu mạc mỗi bên đều rộng 5 gian. Ngoài cùng là hệ thống cột đồng trụ cùng hai nhà tả nghi, hữu nghi, kiến trúc kiểu cổ diêm 8 mái, tạo nên một không gian vừa thoáng đạt, vừa mạnh mẽ, uy nghi. Nối tiếp cổng, sân gạch là sân cỏ rộng (nay đã được đổ bê tông) kề bên ao đình, có gò đất tròn ở giữa, cây cối xanh rờn soi bóng quanh năm - nơi diễn ra các trò “đua thuyền, bắt vịt, nấu cơm thi” trong những ngày hội làng.
Đình Vạn Xuân là một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh kiểu “Nội vương - ngoại quốc”, được cấu thành bởi 10 nóc nhà liên hoàn dọc ngang với diện tích trên 700m². Ở giữa tòa đại đình, trước hậu cung là ban thờ trung tâm; hai bên hậu cung, ở hai đầu tòa đại bái, là hai ban thờ bộ hạ văn và võ, đều hướng vào ban thờ trung tâm.
Ở ban thờ quan văn có bức hoành “Cận văn quang” (Hàng văn chương rực rỡ) và đôi câu đối:
Vạn cổ tinh trung xung nhật nguyệt
Thiên thu nghĩa khí quán càn khôn.
Dịch nghĩa:
Muôn thuở tinh trung tràn nhật nguyệt,
Nghìn năm nghĩa khí thấu càn khôn.
Ở ban thờ quan võ có bức hoành “Dương vũ liệt” (Hàng võ công lớn lao) với đôi câu đối:
Phụ tá Lý triều công bất hủ,
Thanh danh Nam quốc sử lưu phương.
Dịch nghĩa:
Phụ tá Lý triều công lao còn mãi,
Thanh danh Nam quốc sử lưu thơm.
Nhà tiền tế rộng 5 gian, 2 chái; tiếp nối là nhà đại bái. Từ gian giữa nhà tiền tế, hệ thống mái dọc chạy thẳng vào gian giữa đại bái, nối liền với hậu cung. Ngôi nhà dọc này được nâng cao cả hai tầng mái. Nhà hậu cung gồm hai gian dọc nối với gian giữa nhà đại bái, cũng làm hai tầng mái, tương tự dãy nhà dọc chạy suốt từ đại bái ra tiền tế. Nối nhà tiền tế và đại bái ở hai đầu là hai dãy hành lang nhỏ gồm ba gian, lòng nhà hẹp. Sau hậu cung là ba nếp nhà nối liền nhau gọi là nhà hậu phòng, mỗi nhà đều có ba gian.
Nằm giữa các nhà tiền tế, đại bái, dãy nhà dọc và hai dãy hành lang là hai hồ vuông, cân xứng, đối xứng, do tám bờ xối nước chảy vào tạo thành. Ở phía trong cũng có hai hồ tương tự, nằm giữa nhà đại bái, hậu cung và hậu phòng. Bốn hồ này vừa tạo không gian thoáng mát, sáng sủa, vừa là những điểm nhấn quan trọng trên mặt bằng kiến trúc đình Vạn Xuân.
Nhìn từ phía trước, đốc tiền ngôi nhà dọc, tính từ gian giữa nhà tiền tế, được thiết kế như một sảnh đường hai tầng. Phần ván mê ở đầu hồi chạm nổi một mặt hổ phù lớn đang ngậm vành trăng; bờ mái dưới gắn một đôi sấu hướng mặt vào nhau.
Giáp mái gian giữa nhà tiền tế là một sân vuông được xây cao hơn mặt sân đình 15cm, theo kiểu sân lộng, sân chầu. Nhân dân thường gọi là sân chất kiệu, sân hát chèo (chèo sân đình).

Trước đây, đình được làm sàn gỗ và hệ thống cửa bức bàn bao quanh. Tổng số mặt sàn gỗ bao quanh bốn giáp (Đông, Tây, Nam, Bắc; còn gọi là giáp Nhất, giáp Nhị, giáp Tam, giáp Tứ) chiếm tới 3/4 diện tích nhà đại bái và tiền tế. Vào những năm đầu thập niên 1980, sàn bị tháo dỡ; đến năm 2025, sàn được lắp đặt lại như cũ.
Điểm độc đáo thứ hai của đình Vạn Xuân nằm ở quy hoạch tổng thể khác biệt so với nhiều ngôi đình làng hiện còn ở nước ta. Kiểu quy hoạch theo cấu trúc “Nội vương - ngoại quốc” phảng phất dáng dấp của một hành cung, dinh thự lớn dưới thời phong kiến.
Qua bài vè miêu tả đình Vạn Xuân, người Hạ Mỗ đã khắc họa cụ thể, sinh động ngôi đình làng mình:
Đình làng làm đủ trăm gian
To nhớn loại nhất nước Nam nào tày.
Đất quy vờn ngọc đẹp thay
Trước cửa ao cá, giữa ngay cái gò.
Quanh sân bốn cửa tò vò,
Hai cột đồng trụ cao to tày vừng.
Sân Rồng chất kiệu đã từng,
Đôi tả, hữu mạc song hành mười gian.
Mái cong thoáng lá đại, lan,
Sân ngoài cỏ mượt, tán bàng sum sê.
Đại đình cao vút uy nghi,
Dọc ngang mười nóc một li chẳng dời.
Đốc tiền cung điện sáng ngời
Hổ phù hoành tráng y nơi cung đình.
Cánh chuồn đốc hậu rành rành,
Nội vương ngoại quốc quy trình chẳng sai.
Ban thờ lớp lớp trong ngoài,
Bộ hạ võ lược, văn tài hai bên.
Hậu cung cửa cấm bước lên
Ngước trông lộng lẫy ở trên đỉnh đầu.
Long, li, quy, phượng cùng chầu,
Hoành phi, câu đối rực màu vàng son.
Đồ chấp sự rặt bằng đồng,
Xà mâu, bát bửu, kiệu chồng mấy gian.
Bao nhiêu cờ, lọng, quạt, tàn…
Bấy nhiêu công sức dân làng từ xưa.
Ngàn năm cho đến bây giờ,
Đình Vạn Xuân vẫn y như buổi đầu!
Khẳng định giá trị của đình Vạn Xuân và quê hương Hạ Mỗ trong lịch sử dân tộc, câu đối trên cột đồng trụ ghi rõ:
Nam Đế Lý triều, quốc hiệu Vạn Xuân,
diên đình lưu thánh tích,
Ô Diên cảnh thắng, đô thành nhất thế,
quán tự hiển thần linh.
Dịch nghĩa:
Nam Đế Lý triều, quốc hiệu Vạn Xuân,
ngôi đình lớn mãi còn lưu thánh tích,
Thắng cảnh đất Ô Diên, một thời là kinh đô,
tất cả việc thờ tự tế lễ rạng rỡ sự linh thiêng của thần.
Tại đình Vạn Xuân, các lễ tiết trong năm của làng đều được tổ chức trang trọng, nhưng lớn nhất là hội làng hằng năm, nhân kỷ niệm ngày sinh của Thành hoàng (12 tháng Giêng) và ngày hóa của Thành hoàng (12 tháng Tám). Các chữ húy (không được đọc, gọi tên) gồm: Phật, Lang, Liễn và Nghị.
Các trang phục của người dự tế lễ, rước xách không được sử dụng màu vàng và màu tía. Dân trong làng không nuôi trâu, bò có lông trắng. Tháng Hai năm Canh Thìn (1940), một trận hỏa hoạn đã thiêu rụi ngôi đình, chỉ còn lại hai vì đốc nhà tiền tế. Cuối năm Nhâm Ngọ (1942), dân làng chung sức dựng lại đình Vạn Xuân theo đúng mẫu cũ. Bức đại tự “Mỹ tục khả phong” (làng có phong tục đẹp) cũng được phục chế và đặt trang trọng ở gian đầu ngôi nhà dọc nối với gian giữa nhà tiền tế.
Ngày 2/10/1991, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1728/QĐ, công nhận đình Vạn Xuân là “Di tích kiến trúc - nghệ thuật”.
Năm 2025, đình Vạn Xuân được Nhà nước cấp kinh phí trùng tu, tôn tạo, khang trang, bề thế như xưa. Một vị túc nho làng Hạ Mỗ đã có bài thơ vịnh đình Vạn Xuân như sau:
Quốc hiệu danh xưng nhất thứ hồi,
Thăng trầm khứ liễu hựu tinh khôi.
“Nội vương ngoại quốc” duy tồn tại,
Vạn Xuân ức tải mãn tài bồi!
Dịch nghĩa:
Quốc hiệu mang tên đã một thời,
Thăng trầm nay lại mới tinh khôi.
“Nội vương ngoại quốc” còn nguyên đó,
Vạn Xuân sáng đẹp vững muôn đời!