Những trung thu xưa cũ
Tháng Tám có những đêm trăng thơm lựng. Những bông hoa nhài cuối mùa vẫn miệt mài tỏa hương trong ánh trăng. Chưa tới Trung thu nhưng tiếng trống đã rộn ràng khắp xóm. Đang độ nông nhàn, trăng lại đẹp, thật là người Việt xưa khéo chọn, dành tặng con trẻ một cái Tết riêng, rất vui với những món đồ chơi đặc biệt mà ai từng sở hữu hẳn vẫn còn nhớ.
Xưa, kinh tế còn khó khăn, đồ chơi khan hiếm, chỉ cần có một cái đèn ông sao, một đầu sư tử, một ông tiến sĩ giấy đã là vui lắm rồi. Nếu được đội mũ công chúa, tay cầm đèn sao, bày cỗ trông trăng, xem đèn kéo quân nữa thì nhất. Kẹo bánh có phần, lễ Tết vẫn có, nhưng bánh dẻo, bánh nướng chỉ có vào mỗi dịp này. Cắn dè miếng bánh nướng thơm mùi lá chanh, sao mà ngon và chóng hết thế chứ.
Là một xã ven đô nổi tiếng với làng nghề pháo truyền thống, trẻ em ở xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội) xưa cũng có những đêm Trung thu như thế. Có thể trẻ con trong xã “xông xênh” hơn một chút vì dân làng nghề, chịu chi hơn và bố mẹ đi chợ tỉnh sẽ sắm cho thêm vài món đồ chơi ngoài thị xã đem về. Cùng với hạt bưởi được xâu suốt mùa hè, hoa quả đầy ắp chợ Tư, những đêm trăng Trung thu ở khắp xóm Chằm, xóm Chợ hay xóm Chua, xóm Quếch, xóm Đìa, xóm Dộc đều vui cả. Chúng còn đốt đèn hạt bưởi sang xóm bên xem cỗ nhà bên ấy thế nào.

Tôi đã từng là một trong số trẻ con xóm Chợ ngày đó. Đám trẻ con như tôi đứa nào cũng từng ngóng Trung thu suốt từ mùa hè. Ngày lễ trông trăng, xóm tôi thường được tổ chức đúng rằm tại sân kho hợp tác hoặc sân đình. Đây là những nơi lý tưởng vì vừa sạch vừa rộng, để trẻ con thỏa sức chạy nhảy, nô đùa. Chiếu được trải, bàn được kê, các anh chị đoàn viên Đoàn Thanh niên, cùng các bà, các cô Hội Phụ nữ kìn kìn gánh và bê đồ đến. Trẻ con chỉ không phải mó tay vào việc gì, chỉ mải miết chơi hoặc hò nhau chơi trốn tìm.
Cỗ bày xong, các anh chị thanh niên hát tặng chúng tôi những bài hát người lớn. Đứa nào đứa nấy “hau háu” nhìn hoa quả, bánh trái chờ được chia. Bánh dẻo, bánh nướng, bánh chả do xã nhận từ hợp tác xã mua bán về, người dân mua ở đó, còn phần dành cho trẻ con được để riêng. Khi ấy, tuổi còn nhỏ, quà bánh lại thiếu thốn, nên những miếng bánh nhỏ thơm mùi lá chanh, những miếng bánh dẻo có nhân màu đỏ, tan trong miệng, bao năm rồi vẫn thấy ngon, cái vị ngon nhớ mãi đến tận bây giờ. Trẻ con vô tư, chơi không biết đường về, nào có biết rằng khi mình vẫn đang mơ về chị Hằng, chú Cuội hay tiếc rằng cuộc vui chưa thỏa… thì người lớn trong làng đã có một cuộc họp quan trọng trong đêm Trung thu: “hội xem, ngắm trăng rằm tháng Tám” để đoán thời tiết cho vụ lúa xuân.

Hội họp ấy xuất phát từ việc khai thác kinh nghiệm của các lão nông tri điền, kết hợp với ứng dụng khoa học kỹ thuật để lãnh đạo địa phương chủ động hơn trong chỉ đạo sản xuất. Các lão nông tri điền là những “pho kiến thức sống” gắn với điền địa cơ sở, nên không gì bằng việc trao truyền kiến thức gắn với thực tế. Vì thế, các thế hệ từng tham dự những đêm Trung thu xem và ngắm trăng hẳn đều nhớ như nằm lòng rằng: đêm trăng rằm tháng Tám mà trăng trong suốt thì nhất định vụ chiêm xuân sẽ chịu rét đậm, rét hại kéo dài. Còn trăng rằm năm đó mà không trong sáng thì vụ xuân sẽ kém. Những năm trời rét đậm thì phải cấy lúa xuân muộn mới được mùa. Điều này cũng đồng nghĩa với câu “Hoa xoan chân chó, hãy mó tới mạ xuân”, hay kinh nghiệm từng được rút ra: “Khi thời tiết 15 độ thì không cấy, khi thời tiết 16 độ trở lên thì tập trung ra quân đồng loạt cấy vụ xuân”.
Trong những đêm Trung thu, kinh nghiệm được người lớn gìn giữ, trao truyền và bổ trợ cho kiến thức khoa học, góp phần tạo nên những mùa vàng bội thu trên đồng đất quê nhà, những cái Tết ấm no... Chẳng mấy mà các anh chị cán bộ phụ nữ, cán bộ đoàn trẻ năm nào đã trưởng thành và đảm nhận những vị trí lãnh đạo cơ sở. Hợp tác xã Bình Minh năm ấy có những cái tên: chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Khoa; các phó chủ nhiệm Nguyễn Tiến Tý, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Văn Mông; Đinh Công Bọc, Lê Tiến Hỗ, trưởng ban kiểm soát hợp tác xã, và hai phó ban Nguyễn Đình Quỳ, Lưu Bá Mến. Cùng với đó là những ông bà như ông Hòa, đội trưởng đội cơ khí; bà Mến, đội trưởng đội sản xuất giống; ông Tráng, đội trưởng đội thủy lợi đồng phía Nam; ông Thành, đội thủy lợi đồng phía Bắc… Cùng tất cả các đội trưởng, đội phó, các đội sản xuất, đội chăn nuôi, đội kiến thiết…, tất cả ngồi dưới ánh trăng, đồng lòng để đi gần thành công, đi xa thắng lợi. Nhất định con người này, đồng đất này, cây trồng này không thể đói nghèo.
Và quả nhiên, sau những đêm trông trăng như thế, mỗi người đều bồi đắp kiến thức cho mình, cùng nhủ lòng đoàn kết, tận tâm hết lòng với công việc để tạo nên những mắt xích bền chắc nhất, biết dựa vào thiên nhiên, lựa theo thiên nhiên một cách tốt nhất để đạt được mục đích của mình là kế hoạch 10 tấn lúa/ha.

Bằng rất nhiều nỗ lực của toàn thể lãnh đạo và nhân dân, Bình Minh đã dần thoát đói nghèo từ cây lúa. Phải nói rằng làng xã đã thở phào, và còn vui hơn là những năm sau, đồng đất Bình Minh đã cho 11 tấn/ha và vinh dự được đón nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về thăm lần thứ 3, chúc Tết Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Oai nhân dịp đầu xuân năm mới.
Người tham dự những đêm ngắm trăng Trung thu xưa nay đã già, người mất, người còn. Anh chủ nhiệm hợp tác xã Nguyễn Ngọc Khoa năng nổ năm nào cũng đã tạm biệt vầng trăng quê vào hôm rằm tháng 7 năm Bính Ngọ này. Ông không kịp đón thêm một mùa Trung thu rộn ràng tại quê nhà, nơi có gia đình, dòng họ, cháu con và người vợ gắn bó với ông bao năm. Ông đã không ở thêm trần gian để có thêm một lần ngắm trăng và chiêm nghiệm...
Ai cũng bảo vầng trăng muôn thuở vẫn thế, nhưng ngắm kỹ thì lại thấy, ngay cả vầng trăng cũng khác. Trăng thành phố khác trăng quê, rồi đến một ngày trăng quê cũng khác. Từ lâu rồi, trăng mọc lên từ phía nhà cao tầng chứ không phải phía chân trời. Đất cấy cày hẹp hơn sau mỗi vụ, người trong làng tính mùa theo dự án. Hội ngắm trăng như xưa không còn, và đám trẻ con bây giờ chơi Trung thu cũng khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, những kỷ niệm làm nên ký ức làng mình, hồn vía quê mình.
Rồi mỗi mùa Trung thu lại về. Trẻ con hôm nay có những chiếc đèn sáng bằng pin, những mâm cỗ đủ đầy và những cuộc vui khác xa chúng tôi ngày trước. Trăng bay vào từ phía nhà cao tầng, làng xã thay đổi nhiều, ngay cả địa danh sau sáp nhập cũng khác. Những cánh đồng xã Bình Minh, Tam Hưng, Mỹ Hưng, Thanh Văn, Thanh Thùy… từ lâu đã không còn bát ngát dưới trăng, lác đác những đầm sen ngậm sương, như thể vẫn tính tuần trăng để hạt sen chắc và thơm hơn. Những con đường vắt qua cánh đồng hôm nào còn “rụt rè” thì nay đã chắc khỏe, vươn ra các ngả, đấu nối vào những con đường lớn khác. Những con đường liên xã, liên thôn, xe ô tô chạy băng băng.
Sau một đêm trăng, có khi diện mạo cánh đồng cũng khác. Chả mấy mà làng lên phường, đất vườn trồng cây cũng còn ít, chứ chân ruộng cấy đâu còn nhiều. Thế nên, ai còn trông trăng cho vụ lúa Xuân như xưa? Nhưng đâu đó, trong một đêm trăng thật trong, tôi vẫn như nghe tiếng trống tưng tưng vọng từ sân kho hợp tác xã, vẫn thấy những ngọn đèn hạt bưởi lập lòe cuối ngõ, vẫn ngửi thấy mùi lá chanh từ miếng bánh nướng nhỏ bé năm nào.
Và trong ánh trăng ấy còn có bóng dáng những người đã khuất, những người từng ngồi lại với nhau, lo cho mùa lúa, cho cái ăn, cái mặc và tương lai của cả làng. Người đi xa, đồng ruộng đổi thay, nhưng ký ức thì vẫn ở lại. Bởi quê hương, suy cho cùng, chính là nơi ta đã từng lớn lên dưới một vầng trăng.
Những chiếc đèn ông sao theo chân trẻ nhỏ qua những con đường làng trong đêm Trung thu./.