Nghĩ về thể ca khúc

arttime| 11/09/2022 07:59

Sản sinh ra được một ca khúc không khó. Người viết chỉ cần võ vẽ biết ký âm, thậm chí không biết nhạc nhưng có chút cảm xúc là cũng có thể làm được một bài hát (nhờ người biết nhạc ký âm giúp). Sáng tác được bài hát hay, khiến người ta vừa thích nghe, vừa thích hát mới thật là khó. Công chúng thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội chẳng những chỉ thích bài hát lúc mới ra đời mà mãi mãi về sau vẫn thích lại càng khó.

Một ca khúc hay, có giá trị đặc biệt, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng có lẽ cái yếu tố đầu tiên tạo nên sự thành bại, sức hấp dẫn độc đáo hoặc nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt đối với một ca khúc vẫn làgiai điệu.

Nghĩ về thể ca khúc - 1

Ảnh minh họa

Giai điệu phải độc đáo - mới lạ thì càng tốt - và phải có hình tượng phong phú, giàu sức biểu cảm. Cũng như là vô vàn những nụ cười vẫn bắt gặp hàng ngày, ta sẽ xao xuyến với nụ cười nào có thêm hai cái lúm đồng tiền trên má, càng thích thú hơn với những nụ cười lại chỉ lúm đồng tiền một bên.

Nhưng không phải là vấn đề hình thức chủ nghĩa. Giai điệu đẹp, trôi chảy, mượt mà, thậm chí rất mới lạ, cũng sẽ thành vô tích sự nếu nó không tạo dựng được những hình tượng đặc sắc trong bản thân âm thanh để nhằm biểu hiện ý tứ văn học của ca từ. Nói thế để thấy cái cốt yếu nhất của giai điệu vẫn là hình tượng với sức biểu hiện phong phú nhất của nó. Phải tạo ra được hình tượng âm thanh gợi đúng được từng công việc.

Đào công sự của Nguyễn Đức Toàn là một trong nhiều thành công của ông. Bài hát sáng tạo được một giai điệu khá độc đáo bằng việc khai thác chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh với việc sử dụng những tiết nhạc ngắn tạo nên một không khí lao động vất vả, khẩn trương. Phải làm sao khi tước bỏ phần lời, chỉ hát giai điệu, người ta cũng hình dung được một cách đại thể bài hát ấy muốn nói về cái gì, điều gì. Khi một giai điệu có thể đặt dưới nó rất nhiều lời, dùng cho nhiều đề tài rất khác nhau thì thật đáng hồ nghi. Đó là những giai điệu chung chung, mờ nhạt.

Có thể tưởng tượng được chăng nếu giai điệu của Du kích sông Thao lại dùng để đặt lời nói về bộ đội hành quân ra trận, và ngược lại, giai điệu của Hành quân xa lại lắp vào lời lẽ miêu tả một dòng sông? (hai ca khúc của Đỗ Nhuận sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp). Chừng nào người nghe thấy giai điệu ấy chỉ có thể đi với lời ấy, và với lời ấy thì không thể có giai điệu nào khác phù hợp hơn, chừng đó mới chứng tỏ giai điệu thực sự có hình tượng. Đáng tiếc là ca khúc hiện nay có không ít bài nếu tước bỏ phần lời, người ta chẳng thể hình dung được giai điệu ấy muốn biểu hiện cái gì, dù chỉ là tương đối.

Hãy thử nghe mấy bài hát có liên quan đến những dòng sông. Đều cùng diễn tả cái trôi, cái lướt với những âm điệu trữ tình quyến rũ của thiên nhiên, nhưng Du kích sông Thao khác Sông Lô, lại càng khác Thỏa nỗi nhớ mong (dân ca quan họ Bắc Ninh). Dòng sông Thao của Đỗ Nhuận có cái êm ả, khoáng đạt, có cái xa vời tít tắp, có cái đắm say của lòng người dân quanh năm gắn bó với dòng sông. Với Sông Lô, Văn Cao lại diễn tả dòng sông của mình cuồn cuộn chảy, vì lòng sông hẹp nên chảy xiết qua lắm thác nhiều ghềnh. Dòng sông Lô này như đang vang lên âm điệu hào hùng của những chiến công, như đang cuốn theo xác giặc ra biển.

Còn dòng sông Cầu trong bài dân ca quan họ Bắc Ninh thực sự là dòng sông hò hẹn, nơi trao gửi ân ái. Âm điệu bài hát không dàn chải mênh mang mà lên xuống, luyến láy nhiều để diễn tả cái róc rách trong tâm hồn, trong cõi lòng của đôi trai gái dân gian: “Em ở đầu sông chứ riêng anh í i, riêng anh ở cuối í i ì í i i ì í i í i i dòng sông, Dòng sông chứ đợi chờ, nước chảy í i lơ thơ ì í i i ì ”

Nghe kỹ giai điệu, người ta sẽ thấy dòng sông ấy nhỏ bé, nước chảy lượn lờ, hình như là một dòng sông của kỷ niệm, của lòng người hơn là của thiên nhiên. Sao lại có những âm “í i” trong bài? Đó chính là sự tinh tế, thần tình của tác giả dân gian xưa để biểu hiện cõi lòng không thể phô diễn hết. Người hát xử lý những tiếng “í i” này không dễ. Là người tào lao, hời hợt hoặc thô thiển, xô bồ khó hát ra được vấn đề.

Nghĩ về thể ca khúc - 2

Chất liệu dân ca thường được đưa vào ca khúc. (Ảnh Sỹ Minh)

Có lần làm giám khảo một hội diễn ca nhạc quần chúng, tôi thấy một nam diễn viên hát bài này trên sân khấu. Anh ta vận trang phục của một liền anh quan họ, hát với dàn nhạc dân tộc đệm. Giọng anh ta cất lên không đến nỗi nào nhưng tất cả những chỗ vocaliser (í i…) như đã nói, đều được thay bằng “ớ ơ”, lại cũng rung giọng khá rền. Tôi thấy ngộ và kỳ quá. Có lẽ diễn viên này xử lý như thế cho vang hơn chăng?

Thật là khó. Vì dẫu sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ có bảy nốt nhạc với ngần ấy quãng. Nếu quan niệm dân tộc thật khắt khe đến mức bảo thủ thì chỉ là năm nốt (ngũ cung). Nhưng vấn đề còn ở chỗ khác: Thường thì nhiều người thích khai thác dân ca cổ truyền để hình thành giai điệu. Cùng một chất liệu dân ca mà sản ra nhiều bài thì sự hao hao dấu vết của các giai điệu cũng dễ xảy ra, nếu người nhạc sĩ thiếu dụng công tìm tòi và dễ tự vừa ý.

Đòi hỏi giai điệu phải lạ tai, có lẽ khó tính quá chăng và có thể có người chẳng đồng tình. Bởi vì giai điệu phải mang rõ màu sắc âm nhạc dân tộc, mà đã vậy thì dẫu sao cũng ít nhiều thân quen với tai người Việt Nam. Họa chăng là đi “đạo” một nét nhạc lai căng Tây, Tàu tận đâu đâu thì dễ gây cảm giác “lạ tai”.

Vấn đề tuyệt nhiên không phải như thế, mà hai chữ “lạ tai” ở đây xin hiểu là sự mới mẻ, có bản sắc riêng, hoặc có lẽ nói thế này dễ thuyết phục hơn: Nghe xong, người ta nhớ ngay được bài hát ấy, không bị lẫn lộn với nhiều bài khác (nhớ chứ không phải là thuộc).

Trong hàng loạt bài cùng khai thác chất liệu dân ca miền núi (Việt Bắc và Tây Bắc), người ta ghi nhận một số lượng không nhiều những bài có dáng dấp riêng: Tình ca Tây Bắc (Bùi Đức Hạnh), Người Châu Yên bắn máy bay (Trọng Loan), Nổi trống lên rừng núi ơi (Hoàng Vân), Đường lên Tây Bắc (Văn An), Lời ca gửi noọng, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ), Nỗi băn khoăn của chị Lả (Nguyễn Đức Toàn), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc Dung), Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Người Mèo ơn Đảng (Thanh Phúc), Em chọn lối này (An Thuyên)… Có một bài tuy không phổ biến nhưng giai điệu khá độc đáo, nghe rất thú vị. Đó là bài Em ca Sơn La của Hoàng Tạo.

Việc tìm kiếm được những làn điệu dân ca còn lẩn khuất kín đáo ở những địa bàn hẻo lánh ít người biết đến cộng với việc dầy công “chế biến”, “nhào nặn”, “phá phách” sẽ đem đến những hiệu quả thú vị cho người nghe. Trong ca khúc của ta có lẽ có đến hàng trăm bài cùng dựa vào âm nhạc Tây Nguyên cổ truyền, người ta thấy có mấy bài hát thật khó quên: Tây Nguyên bất khuất (Văn Ký), Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp), Tháng ba Tây Nguyên (Văn Thắng), Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên (Lê Lôi), Bóng cây kơ-nia (Phan Huỳnh Điểu), Lời ru trên nương (Hồ Thuận An).

Khi tìm được một chất liệu dân gian nào, dẫu hay, quý, dẫu chưa mấy ai biết, cũng chẳng nên tham lam huy động quá nhiều vào sáng tác, mà chỉ nên lấy một nét nào đó có thể là đặc sắc nhất rồi “thiên biến vạn hóa” đi để sáng tạo nên giai điệu. Như thế, vừa làm cho người nghe nếu không tinh sẽ khó nhận ra chất liệu của mình (cái này cũng rất nên), vừa tiết kiệm được chất liệu để có thể làm thành nhiều bài khác nhau.

Những ca khúc hay, được công chúng hưởng ứng, thường chỉ có hơi hướng dân ca, nếu truy tìm cũng có thể thấy được nguyên vẹn một đường nét nào trong đó, nhưng rồi lướt qua rất nhanh, và phần sáng tạo của tác giả mới là đáng kể khiến người nghe bình thường khó phát hiện nguyên gốc. Chiến thắng Điện Biên của Đỗ Nhuận là một ví dụ.

Bài hát có giai điệu mới mẻ, hào hứng, sôi nổi, diễn tả không khí náo nức, hân hoan của ngày hội chiến thắng ở Điện Biên. Thật không ngờ, đến gần cuối bài hát, nghe câu nhạc: “Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc, đồng bào náo nức mong đón ta trở về…” người ta thấy tác giả dựa vào một nét nhạc uyển chuyển của điệu chèo quen thuộc Sắp qua cầu: “Ấy mấy cây nó cao kìa là quả nó chín mọng, a quả nó chín mòng mọng”. Thật ra, nếu chú ý, ta thấy ngay trong tiếng kèn dạo đầu (prélude) nét nhạc dân ca ấy đã thoáng xuất hiện để chuyển sang mấy nốt kế tiếp đã thoát ra khỏi điệu chèo.

Một chất liệu dân ca nhạc cổ có đường nét giai điệu hay chưa chắc đã giúp nhạc sĩ sáng tác được một ca khúc tốt nếu ít tìm tòi, sáng tạo. Ngược lại, một chất liệu chẳng lấy gì đặc biệt, nhưng vào một tâm hồn nghệ sĩ nào đó, với một tài năng thực sự, vẫn có thể tạo được một ca khúc hay. Xuân Hồng với Bài ca may áo là một trong nhiều ví dụ cho trường hợp này.

Từ bài dân ca Bậu lỡ thời quen thuộc của Nam Bộ (hát gần như nói) với giai điệu chẳng có gì đáng chú ý: “Bậu lỡ thời như nhái lột da, nhái lột da người ta còn xáo. Bậu lỡ thời như áo vá vai…”, ông đã viết nên ca khúc thật đặc sắc. Và đó là một trong những bài hát hay nhất của nền âm nhạc cách mạng miền Nam trước đây.

Khi viết bài hát về một xứ sở nào đó, người sáng tác thường hay nghĩ đến việc dựa vào một làn điệu dân ca của vùng ấy. Cách làm này đã đem lại nhiều hiệu quả. Nhưng cũng chẳng nên quá câu nệ. Lỡ có những vùng chẳng có dân ca thì sao? Hoặc có nhưng không có bản sắc riêng thì cũng thật là khó (như Hà Nội, Hải Phòng chẳng hạn).

Rất có thể viết về địa phương này mà lại sử dụng chất liệu dân ca của địa phương khác, miễn là “nhào nặn” sao cho không còn lộ liễu chất nhạc cổ truyền, và phục vụ được ý đồ biểu hiện. Qua bến đò Quan của Thái Cơ đã không bắt nguồn từ các điệu chèo của Nam Định mà lại hình thành từ điệu Hò mài dừa ở Bình Định: “Ép dầu mà chải tóc (ớ ơ ớ ơ), tóc anh tóc nàng”. Nhưng đường nét ấy chỉ thoáng qua trong Qua bến đò Quan:  “Ơ…ớ.. ơ.. Qua bến đò Quan...”. Chẳng vì thế mà người dân Nam Định khước từ bài hát. Ngược lại, họ vẫn cảm thấy gần gũi, thân quen và rất thích thú.

Bài hát viết ra là để hát, chứ không phải chỉ để nghe, nên mọi yếu tố làm cho người ta dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát cần được triệt để lưu ý. Một bài hát thực sự là hay, có giá trị thì không những người ta thích nghe mà còn thích hát, và ai cũng có thể hát được. Nhiều bài qua việc dàn dựng công phu với sự phối hợp điêu luyện của giọng hát và phần đệm phụ họa có thể làm người nghe thích thú, nhưng chưa chắc đã thích hát. Trường hợp này cần xem xét lại giá trị tự thân của ca khúc. Tạo nên hiệu quả có khi lại ở nơi người ca sĩ, người phối khí, người nhạc công, người thu thanh, thậm chí cả ở cái ra-đi-ô, ti-vi hoặc dàn máy nghe nhạc nữa.

Nghĩ về thể ca khúc - 3

Ảnh minh họa

Ca khúc - đúng nghĩa của từ này - chỉ có thể là khúc ca ngắn gọn. Nếu giai điệu là yếu tố đầu tiên phảỉ nghĩ đến thì liền sau đó là tính hàm súc, cô đọng đến khắt khe của kết cấu, bố cục. Một bài hát dù có chất liệu âm nhạc quý đến đâu, có giai điệu giàu sức biểu hiện đến đâu mà dài dòng, miên man thì giá trị bị sụt giảm nhiều. Trên thế giới, những ca khúc hay nhất đều rất ngắn gọn. Nhưng lượng thông tin cảm xúc tưởng như không bao giờ cạn. Do đó, ca khúc chỉ nên một đoạn hoặc hai đoạn. Một đoạn thì càng tốt. Và hình thức này bao giờ cũng khó viết hơn.

Trong phạm vi một ca khúc, đừng mong nói được quá nhiều vấn đề, lại càng khó đề cập những gì thật cụ thể. Phải chiếu cố đến tính khái quát của ca khúc và thông cảm với mức tương đối của ý tình biểu đạt. Với ca khúc, ở cùng một vấn đề, việc khai thác cáí mới chẳng nên quá ràng buộc ở ý lời, mà cái cốt yếu vẫn là âm nhạc. Và thế là cái mới ở đây chính là lối biểu hiện mới với một ngôn ngữ âm nhạc mới. Điều này làm sáng tỏ thêm trường hợp: Cùng một bài thơ có thể được phổ thành nhiều bài hát. Bài nào có giai điệu phù hợp nhất với lời thơ, ngôn ngữ âm nhạc biểu hiện được nhiều nhất ý tứ văn học của ca từ thì bài ấy thành công nhất.

Nhiều người có khuynh hướng tham lam, kể lể dài dòng, nhất là khi viết bài hát cho các địa phương hoặc ngành nghề. Dẫu kể chuyện có duyên chăng nữa cũng không phù nhợp với ca khúc. Ngay Hoàng Vân là một nhạc sĩ lớn, tài ba, tiêu biểu cho lối kể rất có duyên nhưng nhiều ca khúc của ông nếu được rút ngắn, bớt kể lể vẫn thú vị hơn mặc dù những bài hát dạng này đều đã có đời sống (Nổi trống lên rừng núi ơi !, Bài ca giao thông vận tải, Quảng Bình quê ta ơi !, Tôi là người thọ lò, Tình ca người thợ mỏ, Tình ca Tây Nguyên). Bài nổi tiếng Hò kéo pháo cũng báo hiệu một khuynh hướng kể trong phong cách viết của ông.

Nhưng dẫu sao thì theo tôi, Hoàng Vân nằm trong số ít những nhạc sĩ kể lể mà vẫn có duyên, vẫn hay. Còn thì ở nhiều tác giả khác hễ sa đà vào tình trạng này là ca khúc cứ trôi tuột khỏi tai người nghe.

Cho đến bây giờ, hầu như ai cũng đánh giá cao vai trò của lời trong ca khúc. Nhiều người còn chia tỷ lệ quan trọng cho phần lời là 50%. Thực ra vấn đề không hẳn như vậy. Một bài hát có giai điệu hay (phần âm nhạc tốt) mà lời dở thì thật đáng tiếc. Nhưng dẫu sao người ta vẫn còn nhớ bài hát ấy. Nhưng một bài hát giai điệu nhạt nhẽo, tầm thường thì dù lời có hay đến mấy người ta vẫn cứ quên lãng.

Như vậy đủ thấy phần âm nhạc vẫn là cốt yếu, tuy phần lời hết sức quan trọng. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng có thể ví thế này: Phần âm nhạc ví như cơ thể con người và phần lời ví như bộ y phục người đó đang mặc. Một cơ thể đẹp được vận bộ quần áo đẹp là lý tưởng nhất. Một cơ thể đẹp vận bộ quần áo xấu vẫn có sức hấp dẫn hơn một cơ thể xấu vận bộ quần áo đẹp.

Có rất nhiều tiêu chuẩn cụ thể để xác định giá trị của phần lời, nhưng cái đáng chú ý nhất là tính hàm súc, khái quát của từ ngữ. Hàm súc, khái quát nhưng lại có hình tượng, và hình tượng càng sinh động, càng mới mẻ thì càng có giá trị. Cần nhớ rằng âm nhạc, trong đó có ca khúc, là một loại hình nghệ thuật thuộc phương thức biểu hiện chứ không phải tự sự, cho nên lời lẽ cũng chỉ là để cụ thể hóa những điều phần giai điệu muốn biểu hiện. Nếu lời lẽ kể lể dài dòng tức là giẫm chân sang phương thức tự sự và như vậy giữa lời và nhạc có sự mâu thuẫn. Ở trường hợp này, lời lẽ đã làm tầm thường hóa âm nhạc.

Đành rằng khi ngôn ngữ cụ thể bất lực thì có loại ngôn ngữ khác nói được đầy đủ hơn. Đó là âm nhạc. Nhưng chẳng nên vì thế mà trong phần lời lại sử dụng quá nhiều “vocaliser” (a a… hoặc la la…). Sự quá liều lượng của hình thức này tạo cảm giác nhàm chán. Nội dung thông tin của lời lẽ vì thế mà nghèo nàn đi.

Có những ca khúc vốn dĩ đã nhạt nhẽo về âm nhạc, sơ sài về nội dung, vậy mà khi ca sĩ trình diễn trên sân khấu (hoặc ti- vi) lại còn “sáng tạo” thêm bằng cách tự thêm quá nhiều những ư ư, hứ hự, hô hô, ha ha, có khi choán hết cả vài câu nhạc. Đã nhạt lại càng nhàm hơn. Thật tội nghiệp cho người nghe cứ phải hứng những mớ âm thanh vô vị như thế.

Quá trình viết ca khúc tưởng dễ mà lại vô cùng khó khăn. Mới sáng tỏ một điều: Ca khúc vẫn luôn được xuất hiện ở khắp nơi mà có quá ít bài lọt được vào tai người nghe, cũng bởi vì số đầu bài thì nhiều mà những ca khúc đích thực- sản phẩm của những người biết viết ca khúc thực sự- thì lại chẳng là bao. Ca khúc kén người viết vậy thay.

(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026: Góp phần định hình một sản phẩm văn hóa mới của Thủ đô
    Tối 7/8, tại Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa Thế giới, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khai mạc Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026 với chủ đề "Hào khí Thăng Long - Tinh hoa võ Việt". Lần đầu tiên được tổ chức, Festival đánh dấu bước đi mới của Thủ đô trong việc xây dựng một sự kiện văn hóa - thể thao mang tầm quốc tế, góp phần tôn vinh truyền thống thượng võ dân tộc, quảng bá hình ảnh Hà Nội và thúc đẩy giao lưu văn hóa, thể thao với bạn bè thế giới.
  • Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.
  • Đánh thức di sản, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách, Uỷ ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, Hà Nội là nơi mỗi bước chân đều có thể chạm vào lịch sử, mỗi tên phố, tên làng, mái đình, mặt hồ, nếp nhà, câu hát, món ăn, làn điệu, nghề thủ công đều có thể kể một câu chuyện về chiều sâu văn hiến của dân tộc. Nhưng trong kỷ nguyên mới, câu hỏi đặt ra không chỉ Hà Nội có bao nhiêu di sản, bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức, không gian ký ức, mà là làm thế nào để những giá trị ấy trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh mềm, thành động lực sáng tạo, thành năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
  • Hà Nội đồng loạt kiểm tra an toàn thực phẩm Tết Trung thu trên 126 phường, xã
    Trọng tâm của chiến dịch là hoạt động kiểm tra, hậu kiểm có trọng tâm, ưu tiên hình thức kiểm tra đột xuất đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và nhập khẩu thực phẩm. Các nhóm mặt hàng tiêu thụ mạnh như bánh Trung thu, bánh mứt kẹo, rượu, bia, nước giải khát, phụ gia thực phẩm...
  • Quy định mới về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại
    Nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy vai trò của chính quyền địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 146/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Trong đó, lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có nhiều nội dung quan trọng được phân cấp cho địa phương, góp phần đưa hoạt động hỗ trợ người tiêu dùng đến gần người dân hơn.
Đừng bỏ lỡ
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
  • Phường Phú Thượng: Sôi nổi hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026
    Tối 7/8, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao phường Phú Thượng (Hà Nội) tổ chức Hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026, với sự tham gia của các đội văn nghệ đến từ 16 tổ dân phố trên địa bàn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Đối diện
    Cháu mang bài về, nghiên cứu kĩ rồi đem lại cho chú. Bài viết này chú thấy chưa hợp lí. Nếu như để công an điều tra vào cuộc, chú e… chúng ta phải làm nhiều bước nữa đấy. Sẵn sàng thì tiếp tục nhé! Chú Minh cầm tập bài viết đưa lại cho Thy. Cô ngại ngùng đỡ lấy. Đây là lần thứ ba, loạt bài phóng sự của mình bị Tổng biên tập kêu lên để trả lại...
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
  • Xây dựng Lễ hội Trung thu Thành cổ Sơn Tây thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội
    Lễ hội “Trung thu Thành cổ - Sơn Tây xứ Đoài” năm 2026 do UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức sẽ diễn ra từ cuối tháng 8/2026. Hiện tại, công tác chuẩn bị Lễ hội đang được chính quyền phường Sơn Tây cùng các phòng, ban, ngành, đơn vị và 25 tổ dân phố khẩn trương triển khai, tạo khí thế sôi nổi, sẵn sàng mang đến cho Nhân dân và du khách một mùa Trung thu quy mô, đặc sắc và giàu bản sắc văn hóa xứ Đoài.
  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới” trên ứng dụng iHanoi
    Không chỉ đơn thuần là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, cuộc thi trực tuyến với tên gọi "Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới" hướng đến việc biến những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị thành niềm tin, thành nhận thức chung của mỗi người dân.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Tôn vinh âm nhạc truyền thống tại “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026”
    Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
Nghĩ về thể ca khúc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO