Đi và về trong ký ức

Tuệ Mỹ| 05/10/2022 05:11

Trong dòng thơ Việt Nam đương đại, thơ Đoàn Mạnh Phương định hình trong khuynh hướng thơ cách tân sau 1975 nhưng: “Tạng thơ Đoàn Mạnh Phương là luôn tìm tòi cách biểu cảm và diễn đạt mới từ những điều vốn quen thuộc.

Đi và về trong ký ức
Thơ Đoàn Mạnh Phương là luôn tìm tòi cách biểu cảm và diễn đạt mới từ những điều vốn quen thuộc.

Thơ anh đòi hỏi người đọc kỹ tính, kiên nhẫn dõi theo những thi ảnh lạ, lắng nghe nhịp điệu gập ghềnh của câu để khám phá thế giới nội tâm nhiều trắc ẩn, đôi khi khó nắm bắt” (Hữu Việt). “Mưa ký ức” (Nxb Hội Nhà văn, 2021) là tập thơ thứ tư của Đoàn Mạnh Phương tiếp tục khẳng định giọng thơ riêng biệt của ông, một giọng thơ hòa quyện giữa truyền thống và cách tân.
Tập thơ “Mưa ký ức” đã cho tôi hình dung một con người luôn lặng lẽ quan sát và chiêm nghiệm cuộc sống. Cuộc sống thực tại qua cái nhìn của chủ thể trữ tình là cuộc sống nhanh, vội với “tốc độ lao chóng mặt/ những chiếc bóng dịch chuyển cơ học”, “Thành phố ngợp thở/ Giữa những tín hiệu và ký hiệu”. Đó còn là cuộc sống: Khởi động từng sát na suy tính/ Suy tính bước chân đi/ Suy tính về đích đến/Suy tính cả những lần lỡ hẹn (Tốc độ)
“Siêu thị thông tin” cũng là đặc tính của cuộc sống thành phố thời hội nhập. Này đây: “Vỉa hè cho tôi một bữa sáng/ trong quán ăn/ vô tận thông tin/ Khuấy vào tôi/ một ly cà phê đắng/ ngợp trong dòng tin tức mánh mung”. (Ăn sáng vỉa hè). Còn đây: “Giẫy đạp khỏi mọi lo toan mà lo toan luôn mới/ Thẩm thấu giữa thấy, nghe, nếm, ngửi/ Cuộc sống/ mỗi ngày một vị cay” (Chạm). Một sự “thẩm thấu” như thế sẽ dẫn “tôi” đi về đâu? - Giấc mơ. Phải, giấc mơ. Nhưng tìm đến giấc mơ không phải là lối thoát. Bởi: “Những giấc mơ ẩm ướt của đêm qua/ Như chưa hề ráo nước…”  (Ngọn nến giấc mơ)
“Giấc mơ ẩm ướt” phải chăng là giấc mơ thấm đẫm nước mắt của người mơ? Câu trả lời là đây: “Dưới ban mai tiệc nắng/ Nơi thực dụng gặm mòn mơ mộng”. Ra thế, cứ ngỡ “ban mai” là khao khát của con người: “Muốn thở căng lồng ngực mình/ bằng sự tươi tắn của ban mai” (Giữa) nhưng không ngờ “ban mai” là “Nơi thực dụng gặm mòn mơ mộng” thì quả là đáng buồn. 
Một cách biểu đạt nỗi buồn rất mới, rất Đoàn Mạnh Phương. Thật đã xa: “Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều/ Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn” (Xuân Diệu), “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận) của một thời Thơ Mới và cũng không bóng dáng của thơ cùng thời “là khi tỉnh giấc trong đêm/ một mình ta thấy ngồi bên: Nỗi Buồn” (Nguyễn Trọng Tạo). Đây là hai câu thơ chủ thể sáng tạo dùng làm đề từ cho phần đầu tập thơ, khái quát tâm tư của chủ thể trữ tình trước cuộc sống thực tại đương thời.
Song hành cùng nỗi buồn là nỗi sợ lo. Đánh mất mình là nỗi sợ lớn nhất: “- Ngày ngày soi gương/ chạm cái mặt ham sống của mình/ tự thấy mình mỗi ngày mỗi lạ/ - Cho đến một ngày giật mình: Nhìn tường không thấy bóng!” (Đối diện)
Cái “giật mình” của Đoàn Mạnh Phương cũng tựa cái “giật mình” tỉnh ngộ của “ta”  trong thơ Nguyễn Duy khi được quá khứ đánh thức “Ánh trăng im phăng phắc/ Đủ cho ta giật mình” (Ánh trăng). Sống, đừng quên quá khứ nghĩa tình, hãy lấy quá khứ soi chiếu mỗi bước đi của hiện tại. Đó cũng là tâm niệm của nhà thơ họ Đoàn: “Một dùi trống đánh vào cảm giác/ Cho tôi này/  đi gặp lại tôi xưa/ “Cho tôi này trở lại một tôi xưa”  (Đối diện)
Đoàn Mạnh Phương thấy ký ức là một thứ nhan sắc luôn khơi dậy bao điều tươi mới cho tâm hồn: “Giữa nhan sắc của ký ức/ Ngày mới như một hấp lực”, “Những nét duyên thầm của Thăng Long ta đó, rót vào tim một ký ức ngọt ngào” (Những mảnh ghép ký ức). Bên cạnh những ký ức ngọt ngào là “Ký ức may chiếc túi rộng, đựng đầy bi kịch tha phương”. Và, “Những câu chuyện buồn xưa đã thu trong góc tối của làng và sáng bằng nước mắt”. 
“Ký ức” là khái niệm được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong tập thơ. Ký ức dù vui hay buồn, dù “ngọt ngào” hay “đựng đầy bi kịch” thì cũng là ký ức đáng trân trọng. “Ký ức” xuất hiện với tần suất dày như vậy bởi đó là “Mưa ký ức” được tạo nên từ trường liên tưởng về “mưa”. Khi được “Mưa ký ức” tưới vào hồn cũng là lúc con người tìm được lối về. Về đâu? “Cúi đầu tìm về quê hương” (Chạm).  Và, có một nẻo về, người thơ cũng đặc biệt quan tâm: “Về ngôi chùa cổ/ đựng đầy tiếng chuông… (Về). Về với nơi “đựng đầy tiếng chuông” gọi dậy an nhiên, thức tỉnh con người thoát cơn mê lạc, lòng vọng hướng thiện lành…, thử hỏi còn có nẻo về nào tốt hơn.
Tâm thức luôn ấp ủ ý muốn “tìm về”. Nhưng “về” bằng cách nào? SỐNG CHẬM. Phải, sống chậm là ý thức thường trực của chủ thể trữ tình.
Trong bài thơ “Sống chậm trong thành phố của mình”, tác giả nhiều lần nhắc đến cụm từ “Thật chậm rãi” như một thông điệp khẩn thiết phải sống chậm: “Thèm khát một lắng sâu để duỗi thẳng mọi cảm giác/ để lắng nghe/ để cảm nhận/ để như thấm vào mình/ cái cọ má của hơi thở Hà Nội từng ngày”. Cái điều nhà thơ muốn nhấn mạnh, đặt để ở hàng đầu là “lắng nghe”. Nếu không biết lắng nghe chính mình thì e rằng “Cho đến một ngày giật mình: Nhìn tường không thấy bóng!” như Đoàn Mạnh Phương đã từng dự cảm.
Biết rằng thành phố “trôi theo lực cuốn của thời gian”, con người cũng phải cuốn trôi theo vòng xoáy đó nhưng không phải không có cách cứu vãn nếu biết sống chậm. Bài thơ “Giây phút” tiếp tục trình hiện cái tư duy đó. “Chầm chậm thôi” là thông điệp “sống chậm” tác giả đặt ngay đầu bài thơ. Thật dứt khoát “mặc thời gian thở dốc/ mặc bàn chân dũi đất bước đi” vẫn phải sống chậm lại. Nhưng có vẻ như “bàn chân dũi đất” kia vẫn không nghe lời, vẫn cứ “bước đi” nên mệnh lệnh “Chầm chậm lại” vang lên. Cái mệnh lệnh ấy cũng có vẻ như không đủ mạnh để ngăn cản sức lao của bước chân nên đành nhượng bộ “Dù chỉ trong ý nghĩ”. Chậm lại trong suy nghĩ tất yếu sẽ làm chậm lại bước chân. Nên, sống chậm “dù chỉ” nằm “trong suy nghĩ” thôi cũng rất quý. Cuộc sống cứ đi lên không cho phép ta “dừng lại” nhưng “chầm chậm lại” là điều nên làm, phải làm. Cứ thế, người thơ tiếp tục thuyết phục mình: “Vừa đủ ấm trong tim mình tiếng hót/ Vừa đủ thơm đơm một cánh hoa mềm/ Vừa đủ nhớ một góc chiều đáng nhớ/ Vừa đủ tìm một ký ức thiêng liêng”. Cả quá khứ và hiện tại đều đặt vào đôi quang gánh mắc trên vai mà “sống chậm” chính là cái đòn gánh. Không nặng, nhẹ bên nào, tất cả đều “vừa đủ”. Đến khổ thơ cuối, một lần nữa tác giả nhắc “Chầm chầm lại/ dù chỉ trong ý nghĩ” như muốn khắc sâu cái tư duy sống chậm. Nhưng bạn đọc lại muốn khắc sâu hình ảnh này hơn: “bàn tay mình/ đặt lên ngực đêm đêm…”. Trong một bài thơ khác,  Đoàn Mạnh Phương có nói “Đêm bảo lưu những dấu vết của ngày/ Ngày đã từng ngậm đầy bóng tối”, “Trắng đen/ từng uống nhau” (Trắng đen) đã khiến cho con người phải “nửa đêm mắt còn thức”. Nếu mắt còn thức nửa đêm làm nhức nhối lòng người bao nhiêu thì “bàn tay đặt lên ngực đêm đêm” làm an lòng bấy nhiều. Bởi đây là lời nhắc: Dù có cuốn vào cuộc sống đầy rẫy mưu toan, suy tính, con người cũng đừng đánh mất nhân tính. Còn ấn tượng hơn nữa là cái tiêu đề “Giây phút” thi sĩ đặt cho bài thơ. Nếu nói tiêu đề gói trọn hồn vía bài thơ thì “giây phút” có liên quan gì đến “sống chậm”? Có đấy. Nói đến “giây phút” là nói đến thời gian. Nhiều người vì bận chạy đua với tốc độ cuộc sống mà quên tất cả (bản thân, gia đình và mọi thứ xung quanh) và đổ lỗi cho thời gian không cho phép họ sống chậm. Nhưng họ đâu biết rằng chỉ “giây phút” chậm lại bước chân, để nhìn lại mình, để lắng nghe ta, chắc sẽ không phải “giật mình: Nhìn tường không thấy bóng”. Chỉ “giây phút” lắng lòng khi nghĩ về “Con còn mãi nợ mẹ nợ cha” thì sẽ thấy “trong con còn rơi lệ” (Tạ lỗi). Chỉ “giây phút” sống chậm thôi mà lòng rộng mở, vị tha… “Soi cho tỏ mặt người để không phải người dưng” (Giữa). Lấy cái cực ngắn của thời gian (giây phút) để khẳng định giá trị cực lớn của sống chậm là ý nghĩa của tiêu đề bài thơ. Một cái tiêu đề tạo nhiều sự liên tưởng độc đáo.
Đi và về trong ký ức
Không gian “Mưa ký ức” là không gian tâm trạng của chủ thể trữ tình.

Bài thơ “Giây phút”, theo tôi, là bài thơ tiêu biểu cho cách viết của Đoàn Mạnh Phương trong tập thơ này thể hiện ở cách cấu tứ, chọn hình ảnh, từ ngữ biểu đạt, tiết tấu, nhịp điệu bài thơ…
Qua “Mưa ký ức”, Đoàn Mạnh Phương đã bày tỏ thái độ thẳng thắn trực diện nhằm lý giải một cách chính xác nhất bản chất, chân tướng của cuộc sống. Tác giả chọn cách nói bộc trực đập mạnh vào cảm giác trực tiếp người đọc. Tất cả làm hiển lộ chân dung một công dân trong tâm tư thế đầy trách nhiệm trước cuộc sống thời hội nhập, biết cân bằng cuộc sống giữa hiện tại và quá khứ. Năng động, sáng tạo, trí tuệ, bản lĩnh trong mỗi bước đi lên của hiện tại nhưng luôn soi mình trong ký ức. Biết sống chậm, luôn lạc quan, tin tưởng ở ngày mai nhưng không quên tìm về nguồn cội. Và, còn có cả  chân dung thi sĩ nặng lòng với con chữ “Những chữ cái trò chuyện cùng tôi về thị cảm/ …Những chữ cái áp ngực tôi ấm nóng” và “Sớm nay/ tôi bí từ/ Chữ cái giúp tôi/ bấm vào huyệt tứ” (Cuộc trò chuyện của những chữ cái). Người đọc bắt gặp ở Đoàn Mạnh Phương hòa quyện cả hai chân dung này.
Bảo rằng “Mưa ký ức” là tập thơ mang cảm thức thế sự, thời cuộc? Đúng. Mà thơ viết về thế sự, thời cuộc thì thường khô khan? Cũng đúng. Nhưng không hẳn thế. Bạn đọc có thể bắt gặp ở “Mưa ký ức” vài đoạn thơ/ câu thơ có cách biểu đạt hiển ngôn nhưng xuyên suốt 56 bài thơ trong tập thơ này, hầu hết vấn đề được biểu đạt hàm ngôn, được nói bằng hình ảnh giàu sức gợi, giàu liên tưởng. Như, “Con hổ ký ức/ vừa no say mồi vừa đói khát niềm tin”, “thủ đoạn đâm cành, tỏa nhánh ” “Nợ mùa đông năm trước/ Cầm cố cả con đường”… Ngôn ngữ của “Mưa ký ức” tựa những hạt mưa rơi tự do, tự nhiên nhưng thực chất được thi sĩ chắt lọc kỹ lưỡng và được sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn với nhiều sáng tạo; giàu chất suy luận. Nhiều kết hợp hình ảnh, ngôn từ của ông làm người đọc thấy vừa lạ vừa quen, đầy bất ngờ.
Thơ Đoàn Mạnh Phương rất tỉnh táo nhưng cũng rất đắm mê. Và, đắm mê mới là tư chất thi sĩ: “Những mái phố nghiêng nghiêng nắng vàng/ Thả chậm rãi mùa thu xao xuyến” (Những mảnh ghép ký ức). Tỉnh táo nhưng thấm đẫm nỗi niềm thương cảm: “Chiến tranh đã tạnh rồi, cây cỏ đã hồi tươi/ Vết thương trong lòng quê còn đau sau cuộc chiến”.
Giọng điệu độc thoại - trữ tình xuyên suốt tập thơ, luôn thay đổi.  Khi như triều dâng dữ dội, lúc tựa gió thì thầm u hoài, ẩn ức, lại có khi trong trẻo tựa ban mai sáng ấm. Rắn rỏi và dịu êm; hân hoan và say đắm, cuộn trôi theo từ trường cảm xúc mạnh mẽ và nhất quán, thơ Đoàn Mạnh Phương tạo được hiệu ứng thẩm mỹ và làm bật lên sức liên tưởng mạnh mẽ.
Bước vào không gian “Mưa ký ức” là bước vào không gian tâm trạng của chủ thể trữ tình. Một không gian đa tầng, phức cảm. Thẳm sâu ký ức, dọc ngang hiện tại, thẳng hướng tương lai. Không suy tính thiệt - hơn, được - mất, chỉ muốn cân bằng, “vừa đủ” cho cuộc ĐI và VỀ trong hành trình nhân sinh.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • “Phan Thuận An với Huế”: Kết tinh một đời nghiên cứu về mảnh đất cố đô
    Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng Tri Thức Trẻ Books vừa ra mắt bạn đọc bộ sách “Phan Thuận An với Huế”. Đây không chỉ là một công trình khảo cứu công phu có giá trị học thuật mà còn là kết tinh của tình yêu bền bỉ mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã dành cho vùng đất cố đô.
  • Ký ức tháng Tư
    Tháng Tư lại về. Với người lính, đó không chỉ là một tháng trong năm mà là tháng của ký ức, của những tiếng gọi từ quá khứ vọng về. Mỗi khi tháng Tư chạm ngõ, lòng chúng tôi lại dậy lên những âm thanh cũ: tiếng bước chân hành quân, tiếng võng kẽo kẹt giữa rừng, tiếng hát lạc trong gió núi. Và trên hết, đó là ký ức về ngày đất nước thống nhất - ngày mà bao máu xương, bao tuổi trẻ đã hóa thành niềm vui chung của dân tộc.
  • Trần Thị Thanh Tâm chính thức giành vương miện hoa hậu Miss Global Business Innovation 2026
    Giữa ánh đèn rực rỡ của đêm chung kết Miss Global Business Innovation 2026, khoảnh khắc đại diện đến từ Hà Nội được xướng tên cho ngôi vị cao nhất đã trở thành niềm tự hào đặc biệt đối với người dân Thủ đô. Trần Thị Thanh Tâm chính thức giành vương miện, ghi dấu ấn bằng hành trình bền bỉ, bản lĩnh và đầy thuyết phục
  • Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh, đón hơn 3 triệu lượt khách trong tháng 4/2026
    Theo báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội, trong tháng 4/2026, tổng lượng khách du lịch đến Thủ đô ước đạt 3,09 triệu lượt, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Đừng bỏ lỡ
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
  • Nhà hát Kịch Việt Nam dựng vở “Vũ Như Tô” của tác giả Nguyễn Huy Tưởng
    Nhà hát Kịch Việt Nam vừa khởi công dàn dựng vở kịch kinh điển “Vũ Như Tô” - một trong những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu Việt Nam của Nhà văn, cố tác giả Nguyễn Huy Tưởng, do Đạo diễn - NSƯT Trịnh Mai Nguyên dàn dựng.
Đi và về trong ký ức
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO