Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”

Theo baophapluat.vn| 09/06/2017 09:55

Trải qua hàng trăm năm, giấy dó Phong Phú vẫn được người sử dụng mua về phục vụ thị trường làm quạt giấy, quấn hương trầm, dán bụng cá biển, làm vàng mã. Nhiều gia đình làm nghề nướng cá đã thử sử dụng loại giấy khác để dán bụng cá, nhưng đều quay trở lại sử dụng giấy dó truyền thống nhờ những đặc tính dai, mỏng.


Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Mỗi ngày gia đình ông Trị làm được từ 100 đến 150 tờ giấy dó

Từ vỏ thân cây niệt mọc dại ở các vùng cao đã được những người dân cần cù chặt về làm nên tờ giấy dó mỏng manh nhưng trong và dai. Đây là nghề từng cứu đói, cứu bần cho bà con lúc giáp hạt. Hiện nay, dù có nhiều sự lựa chọn tốt hơn, nhưng hàng chục hộ ở làng Phong Phú vẫn theo nghề thủ công này.

Khuôn seo làm của hồi môn 

Trưa nắng như đổ lửa, bà Dương Thị Loan (51 tuổi, ngụ xóm Phong Phú, xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) đang thoăn thoắt phơi giấy dó trên bãi đất trống trước nhà. Vừa làm, bà cho biết: “Lúc tôi lập gia đình được bố mẹ cho 5 khuôn seo làm của hồi môn. Từ những khuôn ấy, hai vợ chồng tôi tiếp tục nối nghiệp ông bà, tổ tiên. Đến nay cũng hơn 33 năm theo nghiệp này. Vất vả nhưng chủ động thời gian, tận dụng được nhân công nên gia đình tôi vẫn sống tốt với nghề”.

Đây là nghề làm được quanh năm, chỉ trừ những hôm trời mưa. Mỗi ngày vợ chồng bà túc tắc làm cũng đổ được khoảng 100 tờ giấy dó. Giá bán trung bình hiện nay khoảng 4000 đồng/tờ, sau khi trừ chi phí cũng kiếm được khoản tiền kha khá. Vì là nghề vất vả, tất cả làm bằng phương pháp thủ công, phải thức đêm dậy hôm, tốn nhiều thời gian nên hầu như chỉ có người trung niên và cao tuổi theo. Thanh niên trai tráng trong làng chỉ phụ giúp lúc rảnh rỗi chứ không làm chính.  

Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Ông Hà đang cạo bỏ lớp đen bên ngoài vỏ cây niệt

Nhìn tờ giấy dó trong và dai, nhiều người không hình dung nó được làm nên từ vỏ của loại cây mọc hoang dại ngoài đồng, đồi cao. Đó là cây niệt và cây dó. Nhiều năm trước, người làm nghề phải lên rừng thuộc các huyện miền núi như Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳnh Lưu… của Nghệ An, hay sang một số huyện của tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh tìm cây niệt đem về làm nguyên liệu sản xuất.

Mỗi chuyến đi thường kéo dài từ một đến vài ngày. Tuy nhiên, những năm trở lại đây, nhiều hộ gia đình đã đặt mối hàng để cắt giảm quá trình di chuyển. Số còn lại vẫn tranh thủ thời gian nông nhàn tự đi tìm, chặt cây.

Cây niệt sau khi đưa về sẽ được tuốt sạch lá, chỉ tước lấy phần vỏ cây, cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài. Phần vỏ này tiếp tục tước mỏng, sau đó được nhồi với nước vôi. Người làm sẽ chia thành các cục vừa tay, vắt kiệt nước vôi trước khi bỏ vào nồi nấu. “Phải luộc liên tục trong 2 ngày 2 đêm để vỏ cây vốn dai trở nên mềm hơn. Vào những hôm nóng bức, để luộc được một nồi niệt cũng bở hơi tai”, bà Loan cho hay.

Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Nồi niệt được nấu 2 đêm 2 ngày để vỏ cây mềm ra 

Sau quá trình nấu lâu dài, vỏ cây trở nên mềm bở. Người thợ đưa ra hồ ngâm rửa sạch nước vôi, tiếp tục đem ra đâm, giã thật mịn. Nguyên liệu được đặt trên một tấm đá dày, bằng phẳng, dùng chày gỗ để đập kỹ thành một thứ bột ướt màu nâu. Tiếng đập trở thành nét riêng của ngôi làng này. Cứ tờ mờ sáng, lại vang lên âm thanh đó báo hiệu ngày làm việc mới. 

Sau khi cho vào cối giã nhuyễn, nguyên liệu được đem đãi lấy nước trong, cho vào bể seo tráng lên khuôn vải màn (gọi là seo giấy). Ông Nguyễn Văn Hà (57 tuổi, chồng bà Loan) bật mí, để việc đổ nước cây niệt lên không bị trôi đi, người dân nơi đây có thêm bí quyết là lấy nước cây bìm bìm đem hoà với nước niệt đã tẩy trắng thành hợp chất sền sệt. 

Công đoạn cuối cùng là múc nước này tráng lên khuôn màn 1m2. Khâu seo giấy tuy nhẹ nhàng nhưng phải khéo léo, kiên trì nên người phụ nữ thường đảm nhiệm công việc này.

Họ đứng bên tàu seo, hai tay dùng liềm seo múc nước bột giấy rồi gác lên “đòn cách” bằng tre cho nước chảy xuống hết, khi nào chỉ còn  bột giấy đọng lại trên khuôn thì mới đưa ra phơi nắng. Giấy dày hay mỏng là phụ thuộc vào “ngữ đỉnh” ở khuôn seo. Khi khuôn seo khô, bóc ra sẽ thành 1 tờ giấy mỏng, màu trắng đục, trong và dai, đó chính là sản phẩm giấy dó.

Trăm năm không mục nát

Những người có thâm niên trong nghề cho hay, trong nhiều công đoạn, khó nhất chính là khâu đun lửa - phải giữ lửa ở nhiệt độ cao khi luộc vỏ cây niệt trong nước vôi đặc. Sản phẩm giấy dó có thể để đến trăm năm cũng không bị mục nát nhờ sợi dó có khả năng hút và nhả ẩm tốt.

Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Nồi niệt được nấu 2 đêm 2 ngày để vỏ cây mềm ra

“Tất cả các công đoạn đều phải làm thủ công nên đòi hỏi sự cần mẫn chịu khó của người làm. Đã từng có người thử bỏ vỏ cây niệt vào trong máy để nghiền thay cho công đoạn đập bằng đá hoặc gỗ, nhưng kết quả không như mong muốn. Tờ giấy khi thành phẩm bị bở, nát không thể sử dụng được”, ông Hà cho biết. Cũng vì lý do đó mà trải qua nhiều thế hệ, người dân nơi đây vẫn chỉ sử dụng phương thức thủ công để làm nghề.

Tiếng là nghề phụ lúc nông nhàn, nhưng gia đình ông Phạm Văn Trị (50 tuổi) chưa bao giờ xem nhẹ nghề này, bởi nhờ đó mà nhà ông vẫn đảm bảo lương thực trong những ngày giáp hạt. Đất Nghi Phong cát trắng bạc màu, nhà làm 10 sào ruộng, gồm lúa và màu, nhưng năng suất thu hoạch kém, làm nông nghiệp chẳng ăn thua.

Ông Trị luôn chịu khó làm thêm nghề phụ để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Một ngày của ông thường bắt đầu từ lúc 4h sáng, chuẩn bị nguyên liệu cho việc tráng hàng trăm khuôn giấy dó đem phơi cẩn thận, rồi mới đi làm đồng… Trưa về, ông cùng vợ con tranh thủ bóc tờ giấy dó xuống khỏi khuôn trước khi tiếp tục đổ lớp khác.

Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Bà Loan đang rửa khuôn để chuẩn bị cho việc tráng lên khuôn

Nghề này không làm giàu được, nhưng cũng có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống. Với gần 50 khuôn, mỗi ngày gia đình ông Trị đổ được từ 2-3 lần, có 100-150 tờ giấy dó. Trừ chi phí, vợ chồng ông cũng có khoản tiền kha khá sinh hoạt và lo hai đứa con ăn học đàng hoàng. Không những thế, nhiều hộ còn nhờ vỏ cây niệt để phát triển kinh tế, đưa con cái vào đại học, phương trưởng. 

Trải qua hàng trăm năm, giấy dó Phong Phú vẫn được người sử dụng mua về phục vụ thị trường làm quạt giấy, quấn hương trầm, dán bụng cá biển, làm vàng mã. Nhiều gia đình làm nghề nướng cá đã thử sử dụng loại giấy khác để dán bụng cá, nhưng đều quay trở lại sử dụng giấy dó truyền thống nhờ những đặc tính dai, mỏng. 

Thời trước, sản phẩm giấy dó được người làm tự đi tìm mối tiêu thụ. Nhưng nhiều năm trở lại đây đều được các thương lái đến tận nhà thu mua. Tùy vào mục đích sử dụng của khách hàng mà người làm điều tiết để tạo ra tờ giấy dó mỏng hay dày tùy loại. 

Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
Cận cảnh tờ giấy dó thành phẩm 

Năm 2007, làng nghề giấy dó Phong Phú, xã Nghi Phong được công nhận làng nghề cấp tỉnh. Thời điểm đó có trên 60% hộ dân trong làng theo nghề thủ công trên. Tuy nhiên, trong xu thế hiện đại hoá, hiện nay các loại giấy công nghiệp ra đời nên thị trường giấy dó cũng khó cạnh tranh. Hiện nay, một số hộ đã chuyển đổi sang nghề khác nhưng vẫn còn nhiều gia đình ngày ngày tráng giấy dó để bán. 

Ông Nguyễn Đình Lý, Phó chủ tịch UBND xã Nghi Phong cho biết, hiện nay trong xã có khoảng 30 hộ làm nghề giấy dó. Thời điểm hiện tại, dù nghề đã giảm sức nóng, nhưng không thể phủ nhận đây là nghề tạo thu nhập cho nhiều hộ gia đình. Hằng năm, chính quyền luôn trực tiếp xuống thăm hỏi, động viên bà con gìn giữ nghề truyền thống của làng quê.

(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Hà Nội đào tạo 120 tiến sĩ ngành khoa học, công nghệ
    Theo chỉ đạo từ Phó Chủ tịch UBND Thành phố Dương Đức Tuấn, Hà Nội phấn đấu đến hết năm học 2030 - 2031 sẽ hoàn thành đào tạo 120 Tiến sĩ chuyên sâu. Trong đó, 4 chỉ tiêu dành cho công chức Sở Giáo dục và Đào tạo, 116 chỉ tiêu dành cho khối viên chức giảng dạy và quản lý chuyên môn.
  • Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội: Chủ động triển khai chương trình công tác bám sát nhiệm vụ chính trị của Thành phố
    Sáng 11/8, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức Hội nghị sơ kết công tác văn học nghệ thuật 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Loại giấy truyền thống “trăm năm không mục nát”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO