Thiền sư từ Đạo Hạnh: Vị thánh - phật - vua - ông tổ nghề chèo

HNNN| 18/10/2021 09:40

Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? - 1117) là một danh nhân văn hóa, người duy nhất được tôn lên cả ba ngôi chí kính là thánh - phật - vua. Ông còn là một trong những ông tổ của nghệ thuật chèo truyền thống, vừa là nghệ sĩ, tác giả kịch bản, đạo diễn, vừa kiêm cả việc đào tạo diễn viên...

Thiền sư từ Đạo Hạnh: Vị thánh - phật - vua - ông tổ nghề chèo
Tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh thể hiện kiếp thánh, kiếp vua, kiếp Phật của ngài (trong chùa Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai).

Khói sương huyền thoại

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”, mục “Từ miếu”, có thuyết cho rằng ông là người thôn Đồng Bụt, huyện Yên Sơn (nay là xã Ngọc Liệp, huyện Quốc Oai, Hà Nội). Cha ông là Từ Vinh, mẹ là Tăng Thị Loan. Hiện nay, tại Gò Nở thuộc Ngọc Liệp vẫn còn nền đất cũ của nhà ông.

Nhưng cũng sách này, khi chép sự tích về Từ Đạo Hạnh ở mục “Tự quân” thì lại viết: Thiền sư, họ Từ, tên Lộ, tự Đạo Hạnh, người làng An Lãng, huyện Vĩnh Thuận (nay thuộc Hà Nội); tu ở am Hương Giang trong khu vực chùa Thiên Phúc (chùa Thầy, huyện Quốc Oai). Khi vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) đã cao tuổi mà chưa có con nối dõi, em vua là Sùng Hiền Hầu cùng Từ Đạo Hạnh bàn chuyện cầu tự. Ông hẹn khi phu nhân sắp sinh thì báo cho biết. Nhận tin báo, ông tắm rửa sạch sẽ rồi vào trong động núi chùa Thầy. Phu nhân sinh con trai, sau là vua Lý Thần Tông. Sau đó Từ Đạo Hạnh hóa, dân làng đem xác vào trong khám gỗ để thờ. Hằng năm, vào ngày 6-3 (âm lịch) thì làm lễ để chuẩn bị cho ngày 7-3 là ngày kỵ của ông. Vào ngày đó, dân khắp nơi kéo về chùa Thầy dự hội. Trong chùa Thiên Phúc (chùa Cả - chùa chính), bên trái thờ tượng thiền sư, bên phải thờ tượng vua Lý Thần Tông, ở giữa thờ Phật.

Đến giai đoạn thuộc nhà Minh phương Bắc, niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 - 1427), xác của ông bị quân Minh đốt cháy, dân làng đã công đức đúc tượng ông để thờ. Đến triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), cha của hoàng hậu Trường Lạc là Nguyễn Đức Trung đi cầu tự trong động chùa thì có một tảng đá bay đến bèn đem về tạc thành tượng Phật để thờ. Sau đó, hoàng hậu nằm mộng thấy rồng vàng bay vào sườn trái, thụ thai rồi sinh con trai, sau là vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504).

Còn theo dân gian thì Từ Đạo Hạnh là người Nam Điền, làng Yên Lãng (nay là làng Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội). Ông đỗ đầu khoa Bạch Liên nhưng không ra làm quan mà xuất gia sang Ấn Độ học đạo. Khi về núi Thầy, ông dạy học, giảng đạo, chữa bệnh, dạy dân các trò đá cầu, đánh vật, múa rối nước, hát chèo... Về dấu tích ông để lại, sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1782 - 1840) viết: Trên núi Sài Sơn (Cổ Sài), có hang sâu là nơi ông giải thi (hóa), để lại dấu đầu và dấu chân khổng lồ. Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn cho biết: Trong chùa Thiên Phúc có chuông đồng do Từ Đạo Hạnh cho đúc, đến đời Lý Nhân Tông, đại sư Huệ Hưng là đệ tử của ông đã soạn bài ký rồi Lạng Nghiệp Thường khắc chữ lên chuông. Sách “Lịch sử - văn hóa Quốc Oai” (NXB Lao Động, 2010), trang 207, cho biết: Nguyên thủy, chùa xây dựng năm 1057, có tên là “Thiên Phúc tự”; cuối thế kỷ XI thì Từ Đạo Hạnh về đây tu luyện; sau khi ông mất, năm 1117, thì chùa mang tên chùa Thầy để tôn kính ông; cả làng, tổng và núi cũng gắn với tên Thầy từ đó.

Cuộc đời của một người nổi tiếng như Từ Đạo Hạnh - vừa là thánh, vừa là phật, vừa là vua - bao phủ lớp lớp huyền thoại nhưng cốt lõi vẫn là những điều gần gũi với chúng sinh, mang tính nhân đạo.

Cao tăng - nhà thơ Từ Đạo Hạnh

Khi đã trưởng thành, Từ Đạo Hạnh đi khắp thiên hạ để học đạo. Nghe tin đại sư Kiều Trí Huyền (còn gọi là Kiều Tứ Huyền hay Cao Trí Huyền) nổi danh tại Thái Bình, ông tới xin tham vấn. Những câu hỏi của ông ghi trong bài kệ “Vấn Kiều Trí Huyền”: “Cửa hỗn phàm trần vị thức kim/ Bất tri hà xứ thị chân tâm/ Nguyệt thùy chỉ đích khai phương tiện/ Liễu kiến như như đoạn khổ tầm” (“Lẫn lộn phàm trần chưa biết vàng/ Chẳng hay đâu đó ấy lòng chân/ Nguyện xin chỉ giáo bày phương tiện/ Thấy rõ như như khỏi nhọc tìm”).

Đại sư Cao Trí Huyền đã trả lời ông cũng bằng một bài kệ: “Ngọc lí bí thanh diễn diệu âm/ Cá trung mãn lục lộ thiền tâm/ Hà Sa cách thị Bồ đề tạo/ Nghị hướng Bồ đề cách vạn tầm” (“Minh ngọc vang đưa tiếng ảo huyền/ Ở trong vẫn lộ tấm lòng thiền/ Cát sông là cõi Bồ đề đó/ Mà tưởng còn xa mấy dặm nghìn” - bản dịch của nhà văn Ngô Tất Tố, 1894 - 1954).

Từ Đạo Hạnh chưa hiểu, đến chùa Pháp Vân, hỏi thiền sư Sùng Phạm về chân tâm. Thiền sư trả lời: “Chỗ nào lại không là chân tâm? Ngay như đói khát, ăn uống cũng là chân tâm. Hiểu chân tâm chỉ có thể trực tiếp mà lĩnh hội, chứng ngộ bằng chính cuộc sống của bậc chân tu”. Ông trở về chùa Thiên Phúc, tiếp tục tu luyện pháp thuật và đắc đạo, đạt đến độ ung dung tự tại. Chân lý mà ông ngộ được là: “Phật tại tâm”.

Ngoài bài kệ kể trên, ông còn có 3 bài: “Hữu không”, “Thất châu” và “Thị tịch cáo đại chúng”. Đó là những bài nói về lẽ diệu huyền của đạo Phật được thể hiện dưới hình thức thơ đạt đến trình độ nghệ thuật cao.

Từ Đạo Hạnh là một đại thiền sư, một người thầy mà người người tôn kính. Ông là một thánh tăng của người Việt đã để lại 2 dấu ấn rõ nét: Đặt nền móng cho giáo lý Phật học mang tính dân gian bản địa; mở đầu cho môn phái Mật Tông của đạo Phật (kết hợp Phật giáo và Đạo giáo, tu phật rồi tu tiên). Nếu kể cả hậu thân của ông là vua Lý Thần Tông thì ông còn là vua. Vậy là trong ông hài hòa cả 3 quyền lực tối cao: Tiên (thánh) - phật - vua, đúng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) viết trong đôi câu đối treo ở chùa Thượng: “Vị tiên, vị phật, vị quốc vương, sinh hóa tam thân lưu dị tích/ Hữu hồ, hữu động, hữu Thiên Thị, giang sơn nhất đái biểu kỳ quan” (“Là tiên, là phật, là quốc vương, sống thác ba thân còn tích lạ/ Có hồ, có động, có Chợ Trời, nước non một dải cảnh tuyệt kỳ”).

Ông tổ nghề chèo Nghệ thuật chèo hình thành từ thời Đinh (thế kỷ X), qua các thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV) thì phát triển không ngừng và tương đối hoàn chỉnh vào thời Lê (thế kỷ XV). Khi Từ Đạo Hạnh sinh ra, chèo đã có hơn 1 thế kỷ nhưng vẫn còn rất đơn giản. Thường ngày, Từ Đạo Hạnh cùng bạn bè xem diễn trò, tập thổi sáo, đánh trống, diễn lại các tích trò. Từ chỗ bắt chước và lệ thuộc, ông đã tự đặt ra các trò mới và cùng các bạn tập diễn, sau đó phổ biến lại cho các gánh trò. Ông chú trọng tìm cách phát triển nghệ thuật diễn xuất độc đáo của chèo.

 Thời đó, những người làm trò diễn tích đều lấy ứng khẩu tức thời làm thủ pháp chính nên dần dần các tích trò bị mai một vì không có phương tiện lưu giữ. Từ Đạo Hạnh đã phát hiện ra hạn chế này và trong thực tế, ông là người đầu tiên soạn các tích trò trên văn bản viết. Đến nay, bài giáo trò của ông vẫn được lưu truyền: “Trình (Chiềng) làng trình (chiềng) chạ/ Thượng hạ tây đông/ Tư cảnh hòa trung/ Nghe tôi giáo trống/ Trường không phong động/ Cũng bởi trống tôi/ Làng đã vào ngồi/ Tôi xin diễn tích”.

Hầu hết các tích trò ông soạn đều là những câu chuyện đạo lý như sự tích những người tu nhân tích đức rốt cuộc được hưởng phúc trời; những nhà sư khổ luyện được đắc đạo thành phật... Tư tưởng chủ đạo toát lên ở các tích trò là khuyến thiện, trừng trị kẻ ác...

Sau nghệ nhân Phạm Thị Trân (925 - 976), nghệ nhân Đào Văn Só (951 - 975) và cùng thời với nghệ nhân Sai Ất (? - ?), thiền sư Từ Đạo Hạnh được coi là một ông tổ nghề chèo, đã đưa nghệ thuật chèo tiến lên một bước phát triển mới, định hình phong cách của một loại hình nghệ thuật biểu diễn độc đáo. Ông còn là một trong những người đào tạo ra những nghệ sĩ chuyên nghiệp đầu tiên, chuyên sống bằng nghề hát chèo, diễn tích. Đóng góp của thiền sư Từ Đạo Hạnh cho nghệ thuật chèo thật to lớn, qua đó góp phần bồi đắp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Phường Phú Lương trao Huy hiệu Đảng cho 24 đảng viên đợt 19/ 5
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), ngày 28/4, Đảng ủy phường Phú Lương (Hà Nội) đã tổ chức trọng thể Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 19/5/2026 cho 24 đảng viên thuộc Đảng bộ phường.
  • Hội nghị tổng kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở năm 2026: Nâng cao hiệu quả dân chủ trực tiếp tại Thủ đô
    Sáng 28/4, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội phối hợp với UBND Thành phố tổ chức Hội nghị tổng kết triển khai Hội nghị đại biểu Nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở năm 2026. Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết nối trực tuyến với điểm cầu 126 xã, phường, với gần 10.000 đại biểu tham dự.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
Thiền sư từ Đạo Hạnh: Vị thánh - phật - vua - ông tổ nghề chèo
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO