Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Rong ruổi tiếng hát

Phêrô Ngọc 16:29 21/08/2026

Những quán nhậu đã quen với loa kéo. Chiếc loa kéo một người kéo, một người đẩy. Họ dừng lại để một người hát bằng nhạc phát từ điện thoại, và một người ôm giỏ hàng tới từng bàn nhậu bán những phong kẹo cao su. Tôi không phải một nhà phê bình để đánh giá tiếng hát của người hát, tôi cũng không phải một nhà đạo đức học để lúc nào cũng cảm thương bỏ tiền mua phong kẹo đắt gấp đôi hoặc có khi gấp ba ngày thường.

2552bd74-b080-4a73-9229-458895316e3e(1).jpg
Ảnh minh họa (sử dụng AI)

Tiếng hát đập vào tai, quán nhậu đông người trong tối trời chớm rét, tôi chợt thấy tiếng hát rong ngày nay trở nên công nghiệp hóa quá rồi. Người bán kẹo đôi khi vẫn là đứa trẻ con. Báo chí lên án việc trẻ em bị chăn dắt xin tiền, người bán kẹo là người khuyết tật, khi là khoèo, khi là cụt, đôi khi què, đôi khi mù, có đôi khi cũng chỉ người bình thường. Hai mươi ngàn một phong kẹo, đó không phải là giá của món hàng, nhưng là cái giá một thực khách sẵn sàng bỏ ra để bày tỏ lòng thương xót. Những quán nhậu thì lúc nào cũng đặt sát nhau, chưa hết ca khúc, đi hết các bàn, người bán kẹo trở về nơi người hát là tiếng hát ngưng.

Họ đẩy loa sang quán bên, phát một ca khúc khác, hát một âm vang khác dù rằng tiếng hát trước đó hay hơn lời hát hiện tại, nhưng lòng thương của thực khách nơi này giàu nhân ái hơn chỗ kia. Người tốt tản mát chỗ nhiều chỗ ít, không ai biết được ở đâu họ ngồi cả lại, ở nơi đâu không có chỗ họ ngồi. Người hát rong đi qua từng tuyến phố, mưu sinh bằng lần mò tìm xem ở đâu có người sẵn sàng chạnh lòng thương.

Cũng là chiếc loa kéo di động, ở một ngã tư khá đông phương tiện lưu thông. Họ ngồi lại, không kéo lê qua từng tuyến phố nữa. Họ hát, vẫn là hát rong. Tiếng hát bolero bị tiếng động cơ pha tạp, chúng trở nên một thứ âm thanh hỗn mang đầy u uẩn và trần đời. Thường, họ chọn ở yên một chỗ, bởi người hát chẳng thể đi đâu với đôi mắt mù lòa. Ai đi qua ngã tư ấy cũng thấy người hát mù thật không diễn xuất, còn người kia bán đồ của tình thương, hoặc giả chăng như chẳng có gì để bán, họ đưa chiếc hộp kính mica để xin lấy tình thương. Hai người họ hát, tiếng hát của họ ở yên nơi ngã tư phố, nhưng rốt cục vẫn chỉ là hát rong, bởi nếu hôm nay không thể đủ no, ngày mai họ lại rong ruổi sang một ngã tư khác và hát.

Cái no là một cái vô cùng, bởi cái no của kẻ hát rong là cái no không chỉ nơi bụng, bữa nào lo bữa ấy. Đó là cái no tích góp chật vật mưu sinh, đó là cái no sau khi lo đủ các khoản luật phế, là cái no hôm nay nhiều hơn hôm trước, cũng là cái no bữa này đói hơn bữa kia. Ngã tư rộng lớn, xe cộ nhiều. Đèn cũng chỉ dừng chưa đến trăm giây, những lòng tốt, họ tản mát đâu vậy giữa những chiếc xe đứng chờ. Và những con người xin, họ đi làm sao cho hết gần nửa trăm chiếc xe đứng đợi trong thời gian ngắn ngủi ấy để lần mò lòng tốt. Tôi rút ra một chút tiền lẻ định đợi con người ấy đi qua sẽ trao tặng như để tri ân tiếng hát nơi phố muộn. Nhưng tiếc thay sắp đèn xanh, người cầm hộp quay lại nơi vỉa hè và người hát vẫn cứ hát, chờ cho tới lượt dừng đèn đỏ tiếp theo.

Từng có thời, những con người đó tụ lại bắc sân khấu, có đèn sáng chiếu rọi, có âm thanh hoành tráng, có nhạc công đệm organ, có cả đủ những loại hình từ dân gian cho tới hiện đại, từ hiện thực cho đến ảo thuật. Một sân khấu nói hơi quá lời là sân khấu của đủ những kẻ dị hình dị dạng, là tiếng hát người mù, là diễn xuất người câm, là nhan sắc thiếu nữ mặt đầy tràm, là tiếng sáo Trương Chi ngoài đời thực. Màu da cam không hiện lên trên phông bạt, nhưng họ là những con người mang trong mình màu da cam, màu của chất độc trải lên khắp những cánh rừng, màu giết đi sắc xanh tuổi xuân cha ông họ đã mất. Rồi người dân tới để xem, người dân tới để nghe, người dân tới để thể hiện rằng mình thương xót, có cả những người hát lên cùng họ để kêu xin giùm họ một chút yêu thương. Nhưng rốt cục, đó vẫn chỉ là hát rong, hôm sau đoàn người lại dời đi một nơi chẳng ai biết và chẳng ai nhớ họ từng hiện diện. Những con người khuyết tật tụ nhau lại thành một đoàn nhân danh nghệ thuật và biểu diễn nghệ thuật giờ đây đã không còn.

Những đoàn người hát rong không còn nữa. Họ biến mất, phân tán, và không còn ai biết, không còn ai hay, không còn ai nhận ra tiếng hát nơi họ. Như lịch sử một thời đã từng, có những tiếng hát cất lên rồi chẳng ai rõ giờ ra sao. Những kẻ tôi vừa kể là những kẻ ở thế hệ tôi trưởng thành, còn thế hệ sâu hơn nơi quá khứ, những tiếng hát rong ngày ấy thật đơn sơ. Khi còn là một đứa trẻ, đi theo mẹ ra chợ Bắc Qua đập vào tai tôi là tiếng guitar chói tai được kích âm bằng chiếc loa nhìn như chiếc loa phường. Một người đàn ông ôm cây đàn cất lên tiếng hát “ngày lấy chồng, em đi qua con đê” đứa trẻ đen gầy guộc cầm chiếc mũ rơm đi lướt qua mọi người xin từng đồng lẻ. Phải chăng mẹ tôi không cho đứa trẻ ấy chút tiền nào, nên chẳng bao giờ tôi được nghe trọn vẹn bài ca của người hát rong ngày ấy.

Lần nào tiếng đàn cũng toàn những lời bi ai, bi ai như họ, bi ai như đứa trẻ xin tiền, bi ai như chính nỗi lòng tôi đứa trẻ nhìn thấy chạnh lòng thương. Cái bi ai ấy không kể họ là ai, nay là người này mai là người khác, khi là tiếng đàn thùng mộc mạc, khi là tiếng đàn điện thép đanh. Không ai giải thích cho tôi, nỗi lòng người hát rong. Nhưng tiếng đàn người hát rong cuốn lấy tôn mơ được ôm cây đàn để đánh lên những âm giai như họ.

Thế hệ tôi không còn tiếng đàn nhị của người hát xẩm nơi tàu điện, bởi tàu điện khi ấy không còn là nơi người hát rong xin tiền có thể hát. Những người hát xẩm ngày xưa giờ đã được tôn vinh là nghệ nhân. Nhà nước trả tiền để họ hát, công chúng trả tiền để họ tiếp tục hát, và thế giới bỏ tiền ra để có những người hát được như họ. Còn những kẻ hát rong của thời đại, họ dần chìm vào lãng quên. Tiếng guitar hát rong đã thôi rong ruổi mà định cư trên con phố đi bộ. Chiếc loa kéo tiếp nối hành trình trên từng tuyến phố, thôi rồi tiếng nhạc mộc bằng những beat youtube. Người hát vẫn là người hát, người nghe vẫn cứ nghe, nhưng liệu rằng mấy ai đếm đi đếm lại mỗi năm một lời hát. “Cũng đành, xin làm người đến sau, để nghe niềm đau phía trước…” Tiếng hát đến sau phải chăng đau hơn? Không! Người hát rong giờ liệu ai chê trách?./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phêrô Ngọc. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Phêrô Ngọc