Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Hà Nội níu bước chân người đi

Trần Anh Đức 09:34 07/08/2026

Có những thành phố mà người ta muốn đến/ Có những thành phố mà khiến người ta thôi thúc trở về/ Với Hà Nội, có lẽ khi ta vừa bước chân đến sân ga đã thấy lòng mình ngoái lại.

1785984869816_1911544557537518397_410726621131425801_94671871e95a29aa9d214a18015caacc.jpg
Chùa Một Cột, tôi vẫn nhớ cảm giác thanh tịnh khi nhìn thấy ngôi chùa trầm mặc, mái ngói rêu phong... (ảnh: Kim Thoa)

Tôi rời Hà Nội về quê công tác vào một đêm mùa thu, trên chuyến tàu cuối cùng của ngày, giữa nhịp sống vội vã chỉ còn lại tiếng xình xịch của những chiếc bánh tàu hỏa quay đều, những ánh đèn vàng và những cô lao công ngày đêm làm sạch đẹp cho những tuyến phố. Hành lý của tôi là một chiếc vali nhỏ, nhưng bước chân lên tàu tôi nhận ra mình một tài sản lớn nhất đã một thời tuổi trẻ ở đây sống và làm việc gắn bó, là hương hoa sữa, tiếng chuông chùa, màu nước Hồ Tây và vị ngọt của bánh cốm theo suốt cuộc đời.

Tôi đã đi nhiều quốc gia, nhiều thành phố trên thế giới, choáng ngợp bởi những tòa nhà cao vút nguy nga, phương tiện xe cộ tấp nập dưới những ánh đèn rực rỡ. Với Hà Nội, bước chân của tôi đầu tiên ghé đến năm 2011 là Chùa Một Cột, tôi vẫn nhớ cảm giác thanh tịnh khi nhìn thấy ngôi chùa trầm mặc, mái ngói rêu phong. Ngôi chùa như một đóa sen ngàn năm vươn lên từ mặt hồ tĩnh lặng, là nhân chứng, trầm tích của thời gian giữa khát vọng hòa bình của mảnh đất văn hiến. Trạm dừng chân tiếp theo của tôi tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đó là quần thể kiến trúc cổ kính mang lại vẻ đẹp thanh bình giữa lòng Thủ đô Hà Nội. Nơi đây lưu 82 tấm bia đá Tiến sĩ được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới. Tôi tận mắt nhìn thấy những hàng cây cổ thụ cao lớn tỏa bóng mát bao thế hệ, khi đặt tay lên những tấm bia đá vọng về tiếng gọi ngàn xưa, kể chuyện về những bậc hiền tài lưu danh sử sách. Một không gian lưu giữ dấu tích của trường học đầu tiên, mà còn lưu giữ về truyền thống khoa bảng và trân trọng hiền tài của người Việt. Có lẽ vì thế mỗi lần đến và rời Hà Nội, không phải là những con phố đông đúc mà chính là những nếp xưa còn gìn giữ, là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của người Hà Nội nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung.

Nếu như những mái chùa, những bia đá là trầm tích văn hoá, là hồn cốt ngàn năm của Hà Nội, thì những làng nghề và những món ăn ẩm thực ta không thể nào quên. Những năm sống ở làng lụa Vạn Phúc, phường Hà Đông, Hà Nội, chỉ cần nghe khung cửi vẫn đều đặn vang lên từ những ngôi nhà sản xuất lụa tơ tằm thủ công là tôi thấy nhịp sống bền bỉ từ một làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm. Những dải lụa óng ánh dưới nắng vàng ươm được các thợ thủ công lành nghề, nhẫn nại, khéo léo dệt nên như dòng sông Nhuệ mềm mại, vỗ về bao năm tháng chạm vào nỗi nhớ thương của người dân xứ sở này. Tôi nhớ mấy câu thơ của Nguyên Sa “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/ Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (Áo lụa Hà Đông). Bởi vậy, những manh áo lụa được dệt nên tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Khi khoác lên mình tà áo dài làm từ lụa tơ tằm mịn màng của Vạn Phúc, thêu thêm những bông hoa sen – loài hoa được ví như Quốc hoa đất Việt, càng toát lên vẻ đẹp thanh lịch, đằm thắm và tinh tế.

Những du khách trong nước hay quốc tế khi đặt chân đến Hà Nội, thường coi đây như một địa chỉ tin cậy để giữ lại những món quà lưu niệm đáng giá trong suốt hành trình. Có lẽ chính vì vậy mà những món ăn ẩm thực quanh làng lụa vẫn hút khách, chầm chậm giữ chân người đi. Có người nói với tôi “Tình yêu đến từ dạ dày”, vịt Vân Đình là ẩm thực giản dị mà ấm cúng đến như vậy. Món ăn này vốn nổi tiếng từ huyện Ứng Hoà, Vân Đình (cũ), Hà Nội. Sau này được cư dân địa phương ở Vạn Phúc lưu truyền mưu sinh. Là những đĩa vịt quay màu cánh gián, thơm nồng mùi lá móc mật chấm cùng bát nước tương sóng sánh hấp dẫn còn gì bằng. Người Hà Nội có thể không cầu kỳ trong cách thưởng thức, họ nâng niu mỗi món ăn ẩm thực của mỗi miền quê như một phần ký ức, gắn với mỗi con phố đủ để hương vị ấy níu bước chân người đi. Và rồi mỗi lần về quê, tôi đều chọn cho mình những chiếc bánh cốm vuông vức gói gọn vị ngọt thanh của đậu xanh và hương thơm dịu dàng của nếp mới. Món quà không lớn nhưng mang chút tình ấm áp của người Hà Thành theo những chuyến tàu xe đi muôn phương của Tổ quốc.

Tôi yêu những ngày đầu hạ, khi du mình trên chiếc Wave cũ lang thang trên những con đường làng lụa – nơi có những hàng cây sấu xanh muốt, là mùa sấu kết trái lúc lỉu dưới tán lá. Đợi đến cuối tháng 8 đầu tháng 9 những quả màu xanh ấy chuyển sang lấm tấm vàng ươm là báo hiệu mùa sấu chín. Những đứa trẻ, buổi chiều ra sân bóng làng lụa thả diều, nhón nhảy bứt từng quả sấu chín mỡ màng, không còn vẻ chua chát như còn xanh thay vào đó vị ngọt thanh, chua nhẹ đến dễ chịu. Hấp dẫn hơn khi chấm với muối ớt tứa vào chân răng, nhai giòn tan như có chất kích kích kỳ lạ không thể cưỡng lại được. Với chúng tôi, đi làm về đến quán cóc đầu ngõ gọi lớn “Bà Lan ơi! cho cháu một ly nước sấu mát lành nhé!”. Chỉ từng ấy thôi cũng đủ gói cả mùa hè mát lạnh trong tim xua tan đi cái nóng oi nồng của phố xá ngoài kia. Vì lẽ đó, Hà Nội luôn gieo lại trong tôi những mùa nhớ nhớ, thương thương chẳng bao giờ phai nhạt.

Rời xa Hà Nội về địa phương công tác, một ngày mưa tầm tã, vài nốt nhạc cất lên giữa một quán cà phê vắng người, bao nhiêu ký ức bất chợt ùa về “Em ơi, Hà Nội phố!”, con đường mưa buồn trước mặt cứ ngỡ như được trở về Hà Nội, chữ “phố” ngân dài mà lòng ai se sắt. Chùa Một Cột hiện ra soi bóng mặt nước, là Văn Miếu trầm mặc dưới tán cây già, là những dải lụa mềm Vạn Phúc vắt mình trong nắng sớm, là chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng. Hoá ra âm nhạc là khoảnh khắc cánh cửa thần kỳ đưa ta về với những ký ức ngọt ngào, mà thời gian không thể làm được. Từ bao đời nay, Hà Nội vẫn đi vào trái tim bởi những nốt nhạc rất riêng “Người Hà Nội” của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi sáng tác 1947 mang khí phách, hào hoa, kiên cường của mảnh đất kinh kỳ. “Có phải em mùa thu Hà Nội” của nhạc sĩ Trần Quang Lộc sáng tác năm 1972, phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Tô Như Châu khi cất lên bất cứ ai cũng thấy thấm đẫm, nao lòng xao xuyến về Hà Nội, mỗi lần nghe như thấy trái tim mình chậm nhịp đập. “Hà Nội niềm tin và hy vọng” của nhạc sĩ Phan Nhân sáng tác 1972, với giai điệu trầm hùng, tha thiết ngân lên như bản tráng ca về một Hà Nội với tinh thần chiến đấu bất khuất, anh dũng, kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ. Truyền thống đó tiếp tục được hun đúc và kế thừa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến hôm nay. Các ca khúc trên như các lát cắt khác nhau vẽ nên hình hài Thủ đô vừa kiêu hãnh nhưng rất đỗi dịu dàng, vừa lãng mạn lại vừa nên thơ.

Có lúc tôi thầm nghĩ, ai sinh ra ở Hà Nội, khi đi xa mới mang trong mình nỗi nhớ đầy vơi, nhưng rồi ở đây tôi đã gặp được những người bạn từ mọi miền quê đến học tập, công tác và sinh sống ở đây, có lẽ điều họ luyến tiếc nhất khi rời xa là quãng đời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết với Hà Nội. Thành phố phát triển phồn hoa, văn minh hơn nhưng vẫn giữ được cái tinh tuý, cái hồn cốt, cái chất của người Hà Nội thanh lịch. Người có thể đi rất xa và rất lâu, nhưng trong tim vẫn luôn có một bản nhạc dịu dàng, tha thiết níu bước chân người đi./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Trần Anh Đức. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Trần Anh Đức