Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Hà Nội trong miền nhớ tuổi hai mươi

Nguyễn Văn Nhật Thành 10:46 15/06/2026

Có những miền đất, người ta đi qua chỉ một lần nhưng nhớ suốt cả đời. Với tôi, Hà Nội là một nơi như thế. Không phải bởi vẻ đẹp nổi tiếng của hồ Gươm hay ba mươi sáu phố phường, cũng không hẳn vì những điều quá lớn lao, mà bởi một mùa đông rất cũ, rất nhẹ và rất sâu trong ký ức của anh sinh viên năm nào lần đầu ra Bắc vào mùa đông năm 2007.

tac-gia-bai-viet-ben-van-mieu-quoc-tu-giam-vao-mot-sang-mua-dong-nam-2007.jpg
Tác giả bài viết bên Văn Miếu - Quốc Tử Giám vào một sáng mùa đông năm 2007

Năm ấy, tôi còn là sinh viên khoa Văn. Chuyến đi thực tế ra Hà Nội được cả lớp háo hức chờ đợi suốt nhiều tháng trời. Với những đứa sinh viên miền Trung như chúng tôi, Hà Nội khi ấy hiện lên qua trang sách nhiều hơn ngoài đời thực. Đó là Hà Nội của Nguyễn Tuân, của Thạch Lam, của những gánh hàng rong thấp thoáng trong “Hà Nội băm sáu phố phường”, của những con đường đầy lá sấu vàng rơi trong thơ Phan Vũ. Chúng tôi mang theo sự háo hức của tuổi hai mươi, lên chuyến tàu Bắc - Nam từ ga Đông Hà trong một chiều cuối năm đầy gió lạnh.

Con tàu năm ấy đông nghịt người. Đêm xuống, tiếng bánh sắt nghiến lên đường ray nghe miên man như kéo dài mãi nỗi mong chờ. Không đứa nào ngủ được. Có người ôm cửa sổ nhìn bóng tối lướt qua ngoài kia, có người rúc trong chăn kể chuyện tình sinh viên. Còn tôi cứ nghĩ mãi về mùa đông Hà Nội, mùa đông mà trước đó tôi chỉ biết qua sách vở và lời kể. Khi bước xuống ga, cái lạnh lập tức ùa vào cổ áo. Một cơn gió khô và buốt khiến tôi co người lại. Những hàng cây ven đường đứng im lìm trong màu xám bạc của sương sớm. Người Hà Nội đi qua nhau rất nhanh, ai cũng mặc áo khoác dài, quàng khăn kín cổ. Nhưng lạ một điều, giữa cái rét ấy, mọi thứ vẫn rất nhẹ nhàng và trật tự. Người ta nói vừa đủ nghe. Những quán ven đường không ồn ào. Ngay cả tiếng rao cũng mềm và nhỏ như tan vào màn sương lạnh.

Chúng tôi ở trong khu ký túc dành cho sinh viên thực tế, gần một trường đại học cũ. Tối đầu tiên, cả nhóm kéo nhau đi bộ quanh Hồ Gươm. Mặt hồ phủ mờ hơi nước. Tháp Rùa hiện lên xa xa như một nét chấm trầm mặc giữa lòng thành phố. Tôi nhớ mãi hình ảnh những cô gái Hà Nội đi ngang qua trong chiếc áo dạ màu be, mái tóc buông nhẹ, đôi giày nhỏ khẽ chạm trên mặt đường lát đá. Không ai vội vàng phô trương. Cái đẹp của người Hà Nội dường như nằm ở sự kín đáo và tinh tế.

Một chiều khác, chúng tôi ghé vào một quán trà nhỏ trong phố cổ. Quán hẹp, bàn ghế gỗ đã cũ, cửa kính phủ đầy hơi nước. Bà chủ quán là một người phụ nữ Hà Nội đã đứng tuổi. Thấy mấy đứa sinh viên miền Trung run lên vì lạnh, bà lặng lẽ mang thêm một ấm trà nóng đặt xuống bàn rồi cười hiền:

- Uống đi cho ấm.

Chỉ một câu nói ngắn thôi mà tôi nhớ suốt rất nhiều năm sau. Người Hà Nội hồi ấy không niềm nở theo kiểu xuề xòa, nhưng sự quan tâm luôn vừa đủ, kín đáo và có chừng mực. Cái thanh lịch của họ không nằm ở lời nói hoa mỹ mà ở cách cư xử nhẹ nhàng với người khác.

Có lần, trong một buổi sáng rét đậm, cả lớp được thầy dẫn đi thực tế ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Những hàng cây cổ thụ đứng yên trong gió lạnh. Lá vàng rơi xuống sân gạch cũ. Một nhóm học sinh mặc áo đồng phục trắng đang xếp hàng vào tham quan. Các em nói chuyện nhỏ nhẹ, lễ phép cúi đầu chào thầy cô đi ngang. Hình ảnh ấy khiến tôi hiểu hơn vì sao người ta vẫn thường nhắc đến nét văn hóa Tràng An như một điều gì rất riêng.

Hà Nội mùa đông không rực rỡ nhưng đẹp theo cách âm thầm. Đó là mùi hoa sữa còn sót lại cuối mùa đâu đó trên một con phố nhỏ. Là tiếng leng keng của người bán bánh khúc đêm vọng qua ô cửa. Là hơi nước bay lên từ gánh ngô nướng ven đường. Là những quán cà phê sáng vàng ánh đèn trong màn sương lạnh. Mọi thứ đều chậm rãi và vừa đủ để người ta nhớ.

Tôi từng đứng rất lâu bên Hồ Tây trong một chiều muộn. Gió thổi lạnh đến tê tay. Xa xa, vài đôi tình nhân ngồi nép vào nhau trên ghế đá. Một người đàn ông đạp xe chầm chậm ngang qua. Thành phố ấy không quá náo nhiệt như Thành phố Hồ Chí Minh, cũng không ồn ào như những tưởng tượng của tôi trước đó. Hà Nội giống một người từng trải điềm đạm và sâu lắng.

Điều khiến tôi nhớ nhất có lẽ là đêm cuối cùng trước ngày trở về. Hôm ấy trời rất lạnh. Cả nhóm sinh viên chúng tôi ngồi ăn bát phở khuya trong một quán nhỏ gần phố cổ. Hơi nóng từ bát phở bốc lên nghi ngút. Bà cụ bán hàng tay thoăn thoắt thái thịt, giọng nói nhẹ và chậm. Ngoài đường, gió mùa đông bắc lùa qua những mái hiên cũ.

Một người bạn cùng lớp bỗng nói:

- Sau này chắc khó có dịp quay lại đông đủ như vậy nữa.

Cả bàn bỗng im lặng.

Tuổi trẻ hóa ra đi qua nhanh như một chuyến tàu đêm. Những mùa đông năm ấy cũng vậy. Khi ấy chúng tôi còn chưa hiểu hết giá trị của những ngày tháng vô tư ấy để rồi nhiều năm sau, mỗi người một phương, chỉ còn ký ức ở lại nguyên vẹn.

Bây giờ, gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ chuyến đi mùa đông năm 2007 ấy, Hà Nội chắc đã đổi thay nhiều lắm. Những tòa nhà cao hơn, phố xá đông hơn, nhịp sống cũng nhanh hơn. Nhưng trong ký ức tôi, Hà Nội vẫn là thành phố của những sáng sương mờ, của ly trà nóng bên ô cửa nhỏ, của nét thanh lịch nhẹ nhàng trong từng lời ăn tiếng nói.

Có những điều người ta nhớ không phải vì quá lớn lao, mà bởi nó từng chạm rất khẽ vào trái tim mình. Như một mùa đông Hà Nội năm nào. Lạnh mà ấm. Xa mà nhớ./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Nguyễn Văn Nhật Thành. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Nguyễn Văn Nhật Thành