Hà Nội đổi thay và trăn trở
Trong dịp Hà Nội kỷ niệm tròn 1.000 năm vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, rồi sau đó đổi tên thành Thăng Long, tôi, dù ở một phương trời xa cách nửa vòng trái đất, vẫn không khỏi bồi hồi, xúc động xen lẫn niềm tự hào khi dõi theo đại lễ qua màn ảnh nhỏ. Và mới đó thôi, đã hơn 16 năm tôi rời xa Hà Nội của mình, mang những kiến thức học được đi dựng xây các công trình trên khắp mọi miền Tổ quốc. Mỗi dịp được trở về Thủ đô, dù có khi chỉ thoáng qua vài giờ ngắn ngủi, trong tôi vẫn luôn dâng lên cảm giác trở về một nơi thân thuộc và dấu yêu.

Tôi không sinh ra ở Hà Nội, nhưng những năm tháng tươi đẹp nhất của đời mình, quãng đời sinh viên xa nhà, lại gắn bó sâu đậm với nơi đây. Tôi đã đi qua những mùa thu vàng óng ả, nắng như mật ong trải khắp các con đường, để rồi ngay lần đầu gặp gỡ đã xao xuyến đến bồi hồi, trái tim rộn lên vì mùa thu Hà Nội đẹp đến nao lòng. Tôi cũng đã đi qua những cơn mưa tầm tã, với đỉnh điểm là trận lụt lịch sử năm 2008. Đi qua bao kỷ niệm buồn vui của những ngày sinh viên cùng bạn bè, những con người cũng rời quê lên Thủ đô trọ học, tình cảm của tôi dành cho Hà Nội cứ thế lớn dần theo năm tháng. Và rồi tự lúc nào không hay, Hà Nội đã trở thành một phần máu thịt trong tôi.
Tôi ra Hà Nội học trường Bách Khoa năm 2004, mang theo gia tài giản dị là chiếc giường gỗ do bố đóng. Chiếc giường ấy theo tôi qua nhiều căn gác trọ sinh viên, từ khu chung cư cũ kỹ trong một con ngõ nhỏ ở phố Trung Tự, đến ngôi nhà người quen cuối con đường ngoằn ngoèo qua cầu Cống Mọc rẽ vào khu dân cư đông đúc phố Quan Nhân, rồi sau đó yên ổn hơn bốn năm ở tầng ba một căn gác trọ trên phố Tô Vĩnh Diện. Chiếc xe đạp Thống Nhất bố mua ngày nhập học cũng đồng hành cùng tôi trên khắp mọi nẻo đường Thủ đô, có những lúc vừa đi vừa cầm tấm bản đồ trên tay để dò đường. Và với tôi, sự đổi thay của Hà Nội thể hiện rõ nét nhất qua một ngã tư gần những nơi tôi từng sống, Ngã Tư Sở.
Có người nói vui rằng nơi ấy phải gọi là “Ngã Tư Khổ”, bởi mỗi lần đi qua vào thời sinh viên, đúng là một nỗi khổ không dễ quên. Giờ cao điểm, mọi ngả đường dẫn về Ngã Tư Sở đều tắc nghẽn đến nghẹt thở. Xe đạp, xe máy, ô tô chen chúc nhau, khói xe hòa với bụi đường, mồ hôi nhễ nhại trong giờ tan tầm khi ai cũng đói lả và mệt nhoài sau một ngày học tập, làm việc. Người với người nhìn nhau, chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Ngay cả vỉa hè cũng không còn chỗ đặt chân. Và hình ảnh “kinh điển” của Ngã Tư Sở ngày ấy là một chàng sinh viên khỏe mạnh, nhấc bổng chiếc xe đạp, len lỏi giữa dòng xe để tự mở lối cho mình.
Sự tắc nghẽn ấy cũng dễ hiểu, bởi lưu lượng người đổ về Ngã Tư Sở quá lớn, trong khi các tuyến đường dẫn tới lại nhỏ hẹp. Đó là trục Nguyễn Trãi từ Hà Đông vào nội thành, giao với Trường Chinh và đường Láng; phía bên kia là Tây Sơn với trường Đại học Thủy Lợi. Trên đường Tây Sơn còn có chùa Phúc Khánh, nơi mỗi dịp rằm hay mùng một, người đi lễ đông đến mức, với một người “có kinh nghiệm” như tôi, tốt nhất là đợi qua 8 - 9 giờ tối mới dám trở về nhà trọ, bởi trước đó, chen chân đi bộ cũng đã là điều khó khăn.
Những ngày Ngã Tư Sở quây tôn để xây cầu vượt, làm hầm đi bộ thực sự là những tháng ngày gian nan. Đường xá chật chội, lầy lội, bụi bay mù mịt, bám bẩn khắp lối đi và cả những ngôi nhà xung quanh. Nhưng để có được diện mạo khang trang như hôm nay, những năm tháng xây dựng vất vả ấy là điều không thể tránh khỏi. Và có lẽ, những ai được thụ hưởng thành quả phát triển của Thủ đô hôm nay đều phần nào cảm nhận được giá trị của những hy sinh thầm lặng ấy. Còn với tôi, những ký ức về Ngã Tư “Khổ” vẫn luôn là một phần không thể nào quên.
Ngày ấy, đoạn đầu đường Trường Chinh gần Ngã Tư Sở là một con đường chật hẹp, các cửa hàng vật liệu xây dựng bám sát mặt đường, tạo thành một nút thắt cổ chai kéo dài đến đoạn giao với Tôn Thất Tùng gần Đại học Y. Cuối đường Trường Chinh lại là Ngã Tư Vọng, nơi giao với đường sắt và đường Giải Phóng, cũng nổi tiếng tắc nghẽn không kém. Những ngày còn trọ học ở Quan Nhân, mỗi lần từ trường Bách Khoa trở về, tôi đều phải đi qua hai “điểm nóng” ấy, và vì thế, “đặc sản” tắc đường gần như trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống.
Giờ đây, hai con đường “đau khổ” năm nào đã được mở rộng thành những đại lộ hai làn khang trang, với hàng xà cừ cổ thụ tỏa bóng xanh mát. Phía Đông Ngã Tư Sở, trên đường Nguyễn Trãi, khu đô thị Royal City hiện lên như một tổ hợp hiện đại với những tòa nhà cao tầng và trung tâm mua sắm sầm uất. Ngay bên cạnh là tuyến đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông, biểu tượng cho sự chuyển mình của giao thông đô thị. Nhìn ở tầm gần, Ngã Tư Sở hôm nay trở thành một minh chứng tiêu biểu cho sự phát triển của Hà Nội: những điểm đen tắc đường được xóa bỏ, những con đường được mở rộng, những công trình hiện đại lần lượt mọc lên. Thủ đô đang dần xứng tầm với vị thế của một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh và thịnh vượng.
Thế nhưng, vẫn có một điều khiến tôi luôn trăn trở: Hà Nội dường như vẫn chưa có cho mình một dòng sông thực sự trong xanh, thanh mát. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, một thủ đô thường gắn liền với một dòng sông, nơi đi vào thi ca, nơi lưu giữ ký ức và cảm xúc của bao thế hệ. Như sông Seine của Paris, Thames của London, Moskva của nước Nga, hay Danube chảy qua bốn thủ đô châu Âu, hoặc dòng sông Singapore gần gũi với chúng ta. Còn sông Tô Lịch, từng hiện lên đẹp đẽ trong câu ca dao “Nước sông Tô vừa trong vừa mát/Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh”, nay lại trở thành một dòng sông ô nhiễm, ngày ngày phải hứng chịu bao dòng nước thải chưa qua xử lý.
Những năm 2004 - 2005, khi đi qua đoạn sông Tô Lịch gần phố Thái Thịnh và Bệnh viện Nội tiết, tôi từng thấy những công nhân môi trường mặc đồ bảo hộ cao đến ngực, lội xuống dòng nước đen đặc để nạo vét, khơi thông dòng chảy. Sau đó, hai bên bờ được kè bê tông, rồi có đoạn sông bị “đóng hộp” thành sông ngầm. Những con đường “đất vàng” được mở ra, nhưng cái giá phải trả là những dòng sông dần biến mất khỏi tầm nhìn của người dân. Liệu “đóng hộp” một dòng sông có phải là giải pháp lâu dài? Đóng thì dễ, nhưng “mở” để khôi phục và gìn giữ mới là điều khó khăn. Gần đây, tôi vui mừng khi những dự án cải tạo sông Tô Lịch đang được triển khai đồng bộ: nước thải được thu gom đưa về nhà máy xử lý Yên Sở, các đập tràn được xây dựng, nước từ hồ Tây được bổ sung… Một khối lượng công việc khổng lồ, nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao. Bởi Hà Nội là Thủ đô, là trái tim của cả nước, và một dòng sông xanh không chỉ là vẻ đẹp thi ca, mà còn là biểu tượng của văn minh đô thị.
Tôi tin rằng sẽ không lâu nữa, Hà Nội có thể hồi sinh lại dòng sông Tô Lịch như trong ký ức: “Dừng chèo muốn tỏ âm tình/Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”. Ngày ấy, tôi mong được trở lại, đi dọc theo dòng sông, theo con đường Láng thân quen, để nhìn ngắm một Hà Nội vừa đổi thay, vừa giữ được những gì sâu lắng nhất.
Tôi đã đi qua nhiều thủ đô của các nước châu Âu, đến Singapore hiện đại, đến Tokyo vừa hiện đại vừa cổ kính, và điều tôi mong chờ ở Hà Nội, cũng là điều thành phố đang hướng tới, chính là một bầu không khí trong lành để người dân được hít thở. Thật buồn khi vào mùa hanh khô, Hà Nội nhiều lần đứng đầu về nồng độ bụi mịn. Sức khỏe là điều không thể đánh đổi cho phát triển, bởi một khi đã mất đi thì không gì có thể mua lại. Gần đây, Hà Nội đã quyết liệt hơn với các chính sách phát triển vành đai xanh, hạn chế xe sử dụng xăng dầu trong nội đô. Người dân hiểu, đồng cảm và ủng hộ một Hà Nội dám hành động vì môi trường sống.
Tôi biết, Hà Nội vẫn còn nhiều việc phải làm để xứng tầm với vị thế của mình. Một Việt Nam hình chữ S thon thả từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước, được ví như con rồng với hai viên ngọc quý Hoàng Sa và Trường Sa, thì Hà Nội chính là đôi mắt ngọc trên đầu rồng, hướng ra đại dương sâu thẳm. Tôi mong một ngày, đôi mắt ấy sẽ sáng hơn, bầu trời trong hơn, dòng sông xanh hơn; những đoàn tàu trên cao, những công trình ngầm, những mảng xanh đô thị và những hồ điều hòa sẽ cùng nhau tạo nên một Hà Nội đáng sống. Và trên hết, là những nụ cười rạng rỡ của người dân khi được hít thở bầu không khí của Thủ đô, trái tim hồng của cả nước. Ngày ấy, Hà Nội sẽ đẹp biết bao, Ba Đình sẽ thêm rạng rỡ bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
Mỗi lần trở lại Hà Nội, tôi lại ngỡ ngàng và vui mừng trước sự đổi thay ngày càng khang trang, sạch đẹp của thành phố, trong khi những công trình kiến trúc cổ vẫn được gìn giữ và trùng tu. Hà Nội không chỉ là của riêng Hà Nội, mà là của cả đất nước. Vì thế, mỗi người dân đều mong muốn Thủ đô của mình vừa hiện đại, sang trọng, vừa giữ được nét duyên dáng trầm mặc, cổ kính. Một Ngã Tư Sở, một dòng sông Tô Lịch, một đoạn đời sinh viên… nhìn lại tất cả, tôi thấy rõ những đổi thay tích cực, nhưng vẫn còn đó những trăn trở không nguôi, những niềm hy vọng và chờ đợi…/.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Lê Ngọc Sơn. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.