Tản văn

Mùa xuân trên dòng sông quê

Tản văn của Quốc Toản 09:08 20/02/2026

Có lẽ trong đời mình, tôi đã không thể nhớ nổi bao nhiêu lần qua sông Hồng. Thuở thơ bé, đó là những chuyến đò khua nước, sóng lăn tăn dưới ánh chiều. Lớn hơn một chút là những chuyến phà chở cả nhịp sống hai bờ sang nhau.

song-hong-anh-huu-nghi....jpg

Và những năm gần đây, là những cây cầu nối dài ước vọng con người vượt qua dòng chảy miên viễn của lịch sử. Nhưng lạ thay, dù đi bằng cách nào, mỗi khi ngoảnh nhìn về phía dãy Ba Vì mờ xa, phía rừng lim đền Và xanh thẫm sau làn sương khói, lòng tôi lại khẽ thốt lên như một lời gọi tự trong tim: Xứ Đoài của tôi đấy. Quê mình đấy…

Cảm giác ấy không phải chỉ là nỗi nhớ đơn thuần của một người con xa xứ, mà như một mạch nguồn âm thầm chảy dài trong huyết quản. Nó là sắc nước, là hương trời và cả tiếng gió thở bên thành cổ đá ong rêu phong, nơi đã in hằn bao tháng năm lịch sử.

Sông Hồng còn có cái tên linh thiêng là dòng sông Cái (sông Mẹ), dòng sông đã làm nên nền văn minh sông Hồng, làm nên đồng bằng, lễ hội, phong tục, làm nên bản sắc riêng cho bao miền đất. Đối với người dân Sơn Tây, dòng sông ấy đã chất chứa biết bao huyền thoại, bao cuộc đời, bao căn cước văn hóa. Từ truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh thời vua Hùng dựng nước, dòng nước đỏ phù sa kia đã trở thành một phần của máu thịt xứ Đoài, một phần của lịch sử mà tôi vẫn mang theo.

Ngược dòng lịch sử, xuôi theo dòng sông, khi đến vùng hợp lưu ngã ba sông - sông Hồng, sông Đà, sông Lô, là đến Ba Vì - vùng đất mở ra một không gian “đình chùa, miếu mạo”, nơi ta gặp làng Cổ Đô được mệnh danh “làng họa sĩ”, ngôi làng lặng lẽ mà độc đáo, như một phòng tranh ngoài trời nơi thời gian dừng lại. Nơi ấy đã sinh ra Nguyễn Sư Mạnh - Lưỡng quốc thượng thư, Nguyễn Bá Lân - Lục bộ thượng thư văn võ song toàn, và in bóng những câu thơ xưa vọng lại giữa sóng nước mênh mang. Ở đó, tôi nghe thấy đâu đây “Thề non nước” của Tản Đà, thấy từng nếp nhà vương khói chiều, những ngôi chùa khép mình trong tĩnh mịch như đang thiền giữa thế gian.
Khi dòng sông chảy tới địa phận Sơn Tây, đất Đường Lâm hiện ra với dáng vẻ khiêm nhường nhưng ẩn chứa một lịch sử oai hùng. Vùng đất hai vua (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Vùng đất của Thám hoa Giang Văn Minh với câu nói còn mãi với non sông: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”. Những bức tường đá ong, những cổng làng rêu phong, những mái nhà cổ, đình Mông Phụ, chùa Mía, lăng Ngô Quyền… tất cả như từng lớp thời gian chồng xếp lên nhau, tạo thành một không gian ngập tràn ký ức và linh khí.

Và rồi, Thành cổ Sơn Tây hiện ra như một chứng nhân lặng thầm của lịch sử dân tộc. Xuân về, thành cổ dường như trầm mặc hơn. Bức tường đá ong rêu phủ, hào nước xanh im lìm, hàng dừa nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước như đang soi vào quá khứ. Những hạt mưa bụi rơi nhẹ trên rặng liễu gợi một nỗi buồn mơ hồ, một nỗi nhớ không tên.

Tôi đã từng ngồi một mình bên bức tường đá ong, lặng nhìn thành cổ trầm tư, nhìn vết nứt loang thời gian và lắng nghe nhịp thở của lịch sử. Trong khoảnh khắc đó, tôi không chỉ viết những câu thơ, chụp những bức ảnh, mà còn nghĩ về thời cha ông dựng nước, nghĩ về chính cha tôi - người đã từng bước qua nơi này trong xiềng xích.
Từ Sơn Tây, cha tôi tham gia hoạt động cách mạng, không may bị địch bắt, chúng giam tại thành cổ rồi đày ra Côn Đảo. Năm 1954, cha tôi cùng đồng đội trở về, tiếp tục một đời hiến dâng cho quê hương, cho cách mạng. Vượt mọi khó khăn gian khổ, trong bước chân của cha có sự lặng lẽ của người đã đi qua bão tố, đã nhìn thấy vô thường và học cách buông xả. Cha trở về không chỉ bằng thân xác mà bằng một tâm hồn đã được hun đúc bằng lý tưởng cách mạng, như người hành hương đi hết một vòng sinh tử để hiểu ra giá trị của sự bình yên. Ngồi nơi thành cổ, tôi hiểu rằng có những con người đã hóa thân vào lịch sử, như những hàng đá ong câm lặng kia, như bức tường thành rêu phong kia, dẫu trầm mặc nhưng nâng đỡ cả một phần ký ức dân tộc.

Mùa xuân ở Sơn Tây còn là mùa lễ hội. Dòng sông quê bừng lên sắc cờ, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng cười lan dài cả một khúc sông. Lễ hội đền Và - nơi thờ Đức Thánh Tản, vị đứng đầu trong “tứ bất tử” của dân tộc trở thành nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn tâm linh. Mỗi lần hòa vào dòng người trẩy hội, tôi có cảm giác mình không đi về một ngôi đền, mà đi về một phần linh hồn của chính mình. Đức Thánh Tản, vị thần của núi rừng, sông nước, mùa màng và đời sống – không chỉ là một biểu tượng tín ngưỡng, mà còn là một lời nhắc về sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên…

Đền Và với giếng Ngọc, ngũ Dinh, tam cung, hoành phi, câu đối… đứng lặng giữa rừng lim như một thiền viện cổ kính của xứ Đoài. Mỗi bước chân qua sân gạch, mỗi làn khói hương bay lên, tôi nghe lòng mình tĩnh lại. Không còn những náo động của thế gian, chỉ còn hơi thở, nhịp tim và lời nguyện thầm lặng: “Xin cho mảnh đất này mãi được che chở, cho những giá trị này mãi trường tồn.”
Lễ hội “đả ngư” vào mùa thu trên sông Tích cũng vậy. Tiếng hò reo, tiếng sóng vỗ, những tấm lưng gập xuống, những khuôn mặt rạng ngời… không chỉ là trò vui, mà là nghi lễ biết ơn dòng nước, tạ ơn đất trời. Những con cá nhỏ bé sáng lên dưới nắng chiều như những tia linh khí của xứ sở này.

Mùa xuân đã thực sự về trên dòng sông quê. Sông Hồng vẫn chở nặng phù sa, chở nặng ký ức và những câu chuyện chưa bao giờ khép lại. Núi Ba Vì vẫn đứng đó, mây trắng vẫn trôi về phía xa mờ, Thành cổ vẫn nghiêng mình trong bóng thời gian, đền Và vẫn cháy lên những nén hương tri ân. Với tôi, mỗi viên đá ong, mỗi nhành liễu rủ, mỗi dòng nước đều là chứng nhân của lịch sử và là lời nhắc nhở: đất này đã từng chứng kiến bao người từng cầm súng chiến đấu, từng chịu đựng gian khổ, hy sinh.

Tôi lặng lẽ nhìn về phía sông Hồng, về những mái đình, ngôi chùa… trong lòng dâng lên một lời nguyện thầm, mong sao thế hệ sau luôn biết trân trọng, phát huy và gìn giữ những giá trị xưa, biết sống hài hòa với thiên nhiên, với lịch sử và với những con người đã dâng trọn đời mình cho quê hương. Bởi đất này, dòng sông này, những con người này đã dạy tôi rằng: tự do, can đảm, lòng hiếu kính và trí tuệ luôn song hành. Hãy sống trọn vẹn, sống có trách nhiệm, và sống để trở thành hạt giống thiện lành gieo mầm cho những mùa xuân mai sau./.

Tản văn của Quốc Toản