Cỗ dâng thành hoàng đình Kim Ngân
Phố Hàng Bạc dài 280 mét, kéo từ phố Hàng Mắm đến đoạn tiếp giáp giữa phố Hàng Ngang và phố Hàng Đào. Thời Lê là phường Đông Các, từng là bối cảnh của truyện “Mẹo lừa” trong “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Cũng chính chuyện này cho biết ngay từ thế kỷ XVIII, phường Đông Các đã là nơi diễn ra hoạt động đổi chác, mua bán bạc nén.

Trước kia, phố Hàng Bạc có ba nghề chính: nghề đúc bạc nén, nghề kim hoàn và nghề đổi tiền. Những người làm nghề đúc bạc đều là dân làng Trâu Khê (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
Tương truyền, vào đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) có ông Lê Xuân Tín, người làng Trâu Khê giữ chức Thượng thư Bộ Lại được vua cho phép mở xưởng đúc bạc nén ở kinh thành. Ông đưa người làng ra làm nghề này. Làng Trâu Khê có 5 giáp: giáp Nhất, giáp Nhị, giáp Đông, giáp Tây Xuyên và giáp Trung. Cả 5 giáp đều có người lên kinh đô làm tại các “Tràng” đúc bạc, nay là số nhà 58 Hàng Bạc. Có tới nửa dân làng Trâu Khê đã lên ở đây. Họ lập hai ngôi đình để thờ tổ nghề, đó là Đình trên (số nhà 50) và Đình dưới tức Kim Ngân đình (số nhà 42).
“Tràng” chỉ là nơi nấu bạc, đúc thành nén; còn đình là nơi nộp thành phẩm đó cho “Ty quan” - người thay mặt triều đình giao nguyên liệu và nhập thành phẩm. Nghề nấu bạc này, gọi là “chuyên bạc”. Chuyên bạc và đúc bạc là nghề đặc quyền của làng Trâu Khê - Hàng Bạc, không những do kỹ thuật phải giữ bí mật nhà nghề mà còn để tránh những việc gian dối, giả mạo (vì bạc nén vốn dùng làm đơn vị tiền tệ thời xưa). Đặc quyền này do ông Lê Xuân Tín mang lại đã đem đến cho dân Trâu Khê lợi lộc rất lớn. Tuy nhiên, hai đình ở Hàng Bạc lại không thờ ông mà lại thờ Hiên Viên - một nhân vật thần thoại được coi là tổ Bách nghệ (theo “Đường phố Hà Nội”, Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá, NXB Hà Nội, 1979).
Nghề đúc bạc vốn là nghề riêng của phường Hàng Bạc, được coi là “của báu quốc gia” nên từ lâu đã trở thành khuôn mẫu. Điều này được ghi rõ trong bản “Điều lệ phố đình Kim Ngân” gồm 58 điều, do quan viên, thượng thọ, trùm lệnh trưởng trên dưới phố lập năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), trong đó viết: “Nghề riêng của phố ta là của báu của quốc gia, từ trước đã trở thành khuôn thước”.
Do đời sống của người làm nghề khá sung túc, hằng năm vào các ngày tuần tiết, cỗ cúng thần đều được sắm khá thịnh soạn. Điều thứ tư của điều lệ ghi: Hằng năm vào tiết Khai hạ, dâng lễ gồm lợn 1 con, xôi 1 mâm, tiền giấy 100 tờ, cau trầu 100 miếng, rượu tinh khiết 1 chai. (Tất cả) chuẩn giá tiền 5 quan, khi khá giả thì không theo lệ này. Còn đồ lễ chín như lưỡi, lòng dồi, đại tràng và nội tạng thì bày lên mâm ngọc. Thủ lợn, đuôi lợn, chân giò, thịt lợn và xôi bày các mâm. Đến giờ, Đương trưởng thông báo trên dưới có mặt đầy đủ ăn mặc tề chỉnh hành lễ, ai vắng mặt phải gọi về. Lễ xong, lễ vật là đầu, đuôi lợn và nội tạng thì kính biếu Giáp bàn, chân giò thì biếu Trùm giáp, còn cỗ ở mâm ngọc chia đều cho dân trong phường. Số còn lại, bày làm cỗ để người có mặt thụ lộc. Còn thịt lợn thì chia đều các viên trong ngoài phố, mỗi viên một phần, nội thị 12 phần, sau đó đến Giáp bàn và Giáp trưởng, dân nhập trạch 1 phần, cỗ mâm ngọc 1 phần.
Đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long định đô ở Huế, buộc “Tràng” đúc bạc ở Thăng Long thời Lê (đầu triều Nguyễn đổi là Bắc Thành) cũng phải chuyển vào kinh đô, nên phố Hàng Bạc khi đó chỉ còn nghề đổi tiền của người Trâu Khê, nghề kim hoàn của người làng Định Công Thượng, huyện Thanh Trì, Hà Nội và người làng Đồng Xâm, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Dẫu trải qua nhiều thay đổi nhưng nghề vàng bạc ở phố này vẫn được tiếp nối và phát triển. Đời sống của người thợ kim hoàn ngày càng sung túc.
Sau bản “Điều lệ phố đình Kim Ngân” mà điều 4 vừa dẫn ở trên, 43 năm sau, vào ngày 16 tháng Hai Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) toàn phố họp bàn bổ sung điều lệ về lễ xướng ca luân phiên làm cỗ. Việc sắm lễ có định lệ, nhưng do trước lễ sắm nhiều thành ra thái quá, nên nay bản phố họp định mỗi cỗ chuẩn giá tiền là 1 quan 5 mạch. Còn các cỗ bát kê ra sau đây để chiểu theo mà sắm không được tăng giảm. Nay lập điều lệ mới. Kê: chim 1 bát, gà 1 bát, chân lợn 1 bát, thịt nướng 1 bát, thịt nạc 1 bát, cua 1 bát, lươn 1 bát, cá bào ngư 1 bát, cá trắm 1 bát, giả dê 1 bát, giả ba ba 1 bát, giả cầy 1 bát, cơm nén 1 đĩa, nước mắm 1 bát, trà 1 bát, xôi vừng 2 đĩa, giò lụa 1 đĩa, giò vân 1 đĩa, giò hoa 1 đĩa, chả hoa 1 đĩa, chả phồng 1 đĩa, chả quế 1 đĩa, chả rau 1 đĩa, chả dồi 1 đĩa, bánh lá 1 đĩa màu vàng, bánh út 1 đĩa màu vàng, bánh bột lọc 1 đĩa màu trắng, giò thái lẻ 1 đĩa, mất (mứt) bí 1 đĩa, mất cam 1 đĩa, mất hạt sen 1 đĩa.
Mâm cỗ cúng vị Thành hoàng đồng thời là tổ nghề đình Kim Ngân từ gần hai thế kỷ trước gồm 14 bát và 17 đĩa có đủ “sơn hào hải vị” là những tư liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu lệ cúng thần trong lễ tết của một phố nghề làm ăn phát đạt bậc nhất của khu 36 phố phường trên đất kinh đô xưa./.