Gia tộc

Hà Nội xưa - nay - Ngày đăng : 16:11, 02/02/2023

Gia tộc có vẻ là khái niệm dính với thời phong kiến, làng xóm và thành thị chưa cách biệt nhiều.
anh-2-pho-hang-bac-cuoi-the-ky-19.jpg
Phố Hàng Bạc cuối thế kỷ XIX (Ảnh tư liệu)
anh-1.jpg
Cổng vào nhà thờ họ Đỗ ở Đông Ngạc vẫn giữ được nét cổ kính.

Một địa phương thường kể ra “danh gia vọng tộc”, lấy đó làm đặc điểm đáng tự hào của mình bên cạnh hình sông thế núi. Chiếu theo tiêu chí này thì Hà Nội có vẻ không nổi trội bằng cố đô. Ở Huế đầu bảng là “đích dòng” Nguyễn Phước tộc, để phân nặng nhẹ phải lập ra “cơ quan” Tôn Nhơn phủ. Tiếp đó là các nhánh Tôn Thất, rồi những họ Nguyễn Tri, Nguyễn Khoa, Hồ Đắc, Thân Trọng chi chít quan, xác định trên dưới chắc cũng phức tạp. Nhưng tìm vọng tộc của Hà Nội hình như dễ hơn Sài Gòn. Nhìn vào “đỉnh” cơ cấu dân cư, là người tài của thành phố trẻ trung đón gió bốn phương thì yếu tố dòng giống rất chi bé nhỏ. Từ Huế, Quảng vào trước đây, nay ồ ạt lớp người Bắc, Sài Gòn chả bài gì, luôn cởi mở kể cả với văn hóa bên ngoài - Trung Hoa, Âu Mỹ. Đây cũng là một cách nhận diện ba thành phố thường được coi là tiêu biểu của đất nước dài dằng dặc.

Hà Nội, không tính đến phần “thành”, là cơ quan “quân dân chính” điều khiển sinh hoạt, thì nên lấy lõi là khu ba sáu phố phường. Thời Tây vào, nhượng địa phía Nam nhiều biệt thự, và các “phố thông phán” Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế… điểm thêm một nét vào sắc thái chung, thì các phố “Hàng” vẫn được nhắc đến nhiều nhất. Người từ đồng bằng sông Hồng tới buôn bán làm ăn, để lại luôn những dấu ấn văn hóa, tâm linh mang từ quê ra. Đình Đan Loan Hàng Đào do thợ ruộm làng Đan Loan Hải Dương lập nên, đình Kim Ngân Hàng Bạc của thợ bạc. Nhưng phải tưởng tượng theo nếp (nay gọi “cơ cấu”?) cũ, rằng ra trước tiên phải là một hai gia đình, sau đến họ tộc. Khi người làng tụ tập đông nảy ra nhu cầu xây chỗ riêng, thỉnh Thành hoàng ra thờ. Gia tộc có gia trưởng, ông chết theo bác, bố chết nghe anh. Nhưng thương nhân tiền “đuổi” ít thời gian, chả nhẽ cứ hội làng phải dứt ra về quê mới hương khói hiếu hạnh được? Vậy là tập quán tâm linh mới ra đời, đem bài vị gia tộc vào phối thờ trong những chùa làng chùa họ, đình đền cũ hoặc mới ngoài phố.

Dù sao, người ba sáu phố phường, với cốt cách thương nhân, mang yếu tố thị dân là chính. Tự do hơn, rường mối lỏng lẻo, vẫn tam tứ đại đồng đường chen nhau trong nhà ống, giỗ tết chung nhưng tinh thần gia trưởng đã phai nhạt. Ngày dưng gia đình riêng ai ấm bếp nhà nấy, cá nhân được khai phóng, sống cởi mở để chịu những ảnh hưởng ngoại lai. Chẳng hạn phường thợ may từ Phú Xuyên ra, chàng thanh niên có thể ngang bướng với trưởng phường kiêm trưởng họ để tạo ra kiểu cách ăn vận mới, gọi theo Tây là “mốt”. Rồi rạp xi nê, sàn nhảy đầm, phòng trà nhạc sống mọc lên thì “trật tự” càng tung tóe, con cái vận Âu phục về mừng thọ bố mẹ áo the khăn xếp chai rượu vang.

Phải ra ven ngoại mới thấy rõ nền nếp gia phong. Làng Vẽ (Đông Ngạc) chi chít khoa bảng còn nghiêm ngắn những từ đường, giỗ Tổ các họ lớn Phạm, Phan, Hoàng… xưa rộn rịp võng kiệu, nay san sát xe máy, ô tô. Đi về phía Nam có Tả Thanh Oai với họ Ngô Thì, Kim Lũ với các họ Hoàng Đạo, Nguyễn. Đặc điểm này càng rõ khi Hà Tây thành đất Thủ đô. “Cầu Nam chùa Bắc đình Đoài”, nhiều ngôi đình ở Quốc Oai, Thạch Thất, Đan Phượng còn giữ bộ sàn phân chia mâm trên mâm dưới. Tưởng tượng các “đinh” hiện đại ra ngoài nên vương nên tướng về giỗ Thành hoàng vẫn phải theo tinh thần trưởng thượng rất chi phức tạp. Rồi sau đó ta về họ ta vẫn có chi cao chi thấp, nghĩ mình đỗ đạt ủy viên bộ trưởng mà quên lễ độ là ăn quả mắng ngay, đến ngày cưới con dễ bị các cụ dỗi không ra.

Họ Nguyễn bên mẹ tôi gốc làng Vạc, Bình Giang, Hải Dương, có nghề làm lược bí. Thuở những xà phòng Camay, dầu gội Sunsilk chưa có, lược bí chải chấy bán khắp chợ cùng quê, sang tận Nam Vang. Đời nào ra Hà Nội, ông ngoại tôi không ghi lại, chỉ biết cụ tôi có hiệu buôn chè ở 49 - 51 Hàng Đường. Cậu tôi, nếu còn gần trăm tuổi, mỗi áp Tết rất sợ phải sang đền Bạch Mã bên Hàng Buồm lau mâm bồng, đánh đỉnh đồng trên bàn thờ; họ tôi có một nơi cúng bái riêng chăng? Vì ở “tầng lớp trên” nhưng đóng nhiều người cho cách mạng, mà sau năm 1954, các nhánh, cành mất nhiều gia sản nhưng con cái vẫn vào đại học, thành công chức được. Dẫu vậy nhiều nếp xưa không còn giữ, như vài chục năm chả về quê Vạc, các gia đình tản mác, cúng bái giản tiện cho phù hợp lối mới. Tài, là người giữ hồn cốt gia tộc lại người đàn bà.

Cô Nhắt ở 17 Hàng Đường, không lấy chồng. Đợt cải tạo nhà cửa những năm sáu mươi, cô đón người bà con “cán bộ” về, giữ lại được căn nhà ống, đi qua cửa hàng bán đồ khô đến khoảnh sân bầy chậu hoa, cầu thang chẽ sang hai tầng gác. Khi việc thờ phụng của cả họ suy tàn, ai ai cũng sợ “mũ” phong kiến, thì cô tôi, dù chả phải ngành trưởng, đứng ra lo liệu. Tết lễ, giỗ chạp được lên Hàng Đường ăn cỗ là dịp mừng vui lớn. Trước khi ăn phải “chào” các cụ, trẻ mỏ đứng trước bàn thờ chả biết những ảnh là ai, rất ngại vái lại sợ bị mắng “mất nếp”. Mâm gỗ cũng bốn bát bốn đĩa như nhà khác, mà tất cả đều ngon và đẹp lạ lùng. Sau này lớn lên, tôi hiểu sự lạ đó là ở cách dùng gia vị, nấu mộc mà tinh xảo. Cô tôi chỉ đun củi, ghét mì chính, vani, còn húng lìu, cà ri để tẩm ướp chỉ mua ở mấy hiệu Tàu Hàng Buồm. Thức tráng miệng thường là bánh hoa cầu, bánh củ cải hay cam Canh, bưởi Diễn. Lũ cháu lớn lên trong sự cung cấp của mậu dịch - người nội trợ cho toàn xã hội - hồi ấy chỉ biết cái gì cũng ngon, còn chẳng hiểu cô kiếm ra những thức “giàu vị phong kiến hơn tư sản” ấy ở đâu.

Những biến động khiến xã hội thay đổi thật nhanh. Chiến tranh hết, công cuộc làm ăn chóng mặt. Chữ Nho biến hẳn, tiếng Pháp và văn hóa Pháp thua hẳn màu Âu Mỹ. Những món ăn Nhật, Hàn, Anh, Mỹ tràn ngập. Thanh niên nghe chuyện xưa phẩy tay “Dào ôi, các cụ…” nhưng lại nhận xét sao mấy “u tám mươi” họ mình gặp nhau cứ quấn quýt, dứt không ra. Là vì từng cùng được lên Hàng Đường đùa nghịch trong sân giời rồi lên gác vái xong chén cỗ bà Nhắt. Những thứ ấy mong manh mà buộc được những người có chung tý máu mủ lại gần nhau, ở đoạn sắp “thiên cổ”.
Hà Nội “đất trũng” cả núi người đổ về, luôn có hai chiều hướng nghịch ngược nhau cuộn chảy: Thành thị hóa nông thôn và nông thôn hóa thành thị. Trong những gia đình mới nhập cư, bố mẹ gồng gánh đồng hương đồng tộc lên ở cùng, tiền kiếm được đem về quê xây nhà thờ họ. Phần đời con cái lại đề cao cuộc sống cá nhân, sự chọn lựa riêng. Khái niệm quê hương nhạt dần, nghe đâu đó lũ lụt chỉ thương chung chung trừu tượng. Thế hệ thứ ba đã có những công dân quốc tế, quốc tịch vẫn Việt Nam nhưng sinh sống, văn hóa Hàn đặc Tây xịn. Hình ảnh người thị dân, như thế, có vẻ ngập ngừng: không thể quay về với nếp gia trưởng, đứa trẻ còn trong bụng mẹ đã có nghĩa vụ chống gậy, nhưng làm cái anh tự do tuyệt đối chả gốc gác nào chả hóa ra cánh bèo không rễ a.

Thế thì vai trò của gia tộc cùng những truyền thống khác ra sao, còn cần không và gìn giữ thế nào? Rất nhiều câu trả lời khác nhau đấy. Trên lý thuyết thì nó đã thể hiện ở những nghị quyết, chủ trương… Nhưng vẫn cứ mong manh ở từng “tế bào xã hội”, sự từng trải của mỗi con người. Có những thứ tạo nên hình ảnh một đô thị như gốc cây, góc chợ, mảnh tem phiếu cũ. Lại bao nhiêu vô hình vô ảnh bé tẹo trong ký ức, như bát canh bóng tỏa mùi nấm hương trên mâm cỗ, ngày rét đậm…

Nhà văn Trần Chiến