Hà Nội xưa - nay

Lớp học thời chiến và ký ức từ những vùng sơ tán

Thụy Phương • 16:08 08/10/2026

Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), sáng 8/10, Bảo tàng Hà Nội tổ chức tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán”. Những ký ức của những giáo viên, học sinh từng học tập, giảng dạy tại các vùng sơ tán trong những năm chiến tranh được chia sẻ trong tọa đàm đã tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô.

Tại tọa đàm, những câu chuyện về lớp học, đời sống và tình cảm của thầy trò trong những năm chiến tranh được kể lại qua ký ức của PGS.TS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Huệ - nguyên Trưởng khoa Bảo tàng (nay là Khoa Di sản văn hóa), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; ông Bùi Dương Hòa - nguyên giáo viên từng giảng dạy tại khu vực sơ tán năm 1972; ông Nguyễn Ngọc Long - nguyên học sinh Trường Tiểu học Cát Linh từng đi sơ tán năm 1972.

Một tiết mục biểu diễn của học sinh trường Tiểu học Lômônôxốp tại buổi tọa đàm.

PGS.TS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Huệ nhớ lại, năm 1965, chỉ ba ngày sau khi nhập học Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa, bà cùng các bạn phải sơ tán tới Yên Dũng, Hà Bắc, nay thuộc Bắc Ninh. Tại nơi sơ tán, lớp học được dựng bằng tranh, tre, nứa, lá. Lớp của bà có 24 người; không có điện nên chủ yếu học ban ngày, sách vở thiếu thốn, phấn được sử dụng tiết kiệm. Có những lúc, sinh viên dùng cành rào viết xuống đất để học chữ Hán - Nôm. Ngoài giờ học, các sinh viên tham gia tăng gia, trồng rau, luân phiên nhận lương thực, nhu yếu phẩm cho bếp tập thể.

Nhớ về những năm tháng ấy, cô giáo Huệ vẫn không quên mùa đông lạnh giá nhà trường làm cho mỗi bạn nữ một chiếc giường đơn bằng tre, nhưng vì rét nên thường hai ba người nằm cùng nhau cho ấm; nhớ những món quà quê được mang lên chia sẻ cùng cả lớp trong những ngày xa nhà; nhớ cả những ân tình mà các gia đình người dân địa phương đã dành cho thầy trò nhà trường những ngày tản cư khó khăn, thiếu thốn.

PGS.TS Nguyễn Thị Huệ chia sẻ ký ức những năm tháng học tập tại vùng sơ tán.

Với thầy giáo Bùi Dương Hòa, những năm tháng sơ tán cũng để lại những ký ức đặc biệt về các lớp học giữa vùng đồi núi. Năm 1972, khi vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông xung phong lên Yên Thế, Hà Bắc, giảng dạy theo nhiệm vụ của Ty Giáo dục Hà Bắc cũ. Từ năm 1972 đến 1993, ông giảng dạy tại Trường cấp 3 Yên Thế, sau đó chuyển về Trường Dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang.

Thầy Hòa nhớ lại, lớp học khi ấy được đào sâu vào trong đồi, xung quanh là rừng dẻ; các lớp không nằm liền nhau nhưng được nối bằng hệ thống giao thông hào. Mỗi lớp có khoảng 35 - 40 học sinh, mái hình chữ A dựng bằng cây nứa. Nơi ăn ở của giáo viên cũng hết sức đơn sơ, mỗi phòng chỉ có một chiếc giường, một bộ bàn và một chiếc hòm đựng đồ cá nhân.

Khi được hỏi về lý do lựa chọn công việc nhiều gian khó ấy, thầy giáo Hòa nhắc lại câu nói: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, thì gian khổ sẽ dành phần ai?”. Với tinh thần “Ba sẵn sàng”, trong điều kiện thiếu thốn, người thầy dạy Hóa học Bùi Dương Hòa năm đó đã tìm cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức bằng những bài ca, bài thơ. Những bài học về hóa trị, đồng đẳng, đồng phân được chuyển thành những câu dễ nhớ để học sinh dễ ghi nhớ kiến thức.

Thầy giáo Bùi Dương Hòa (giữa) và ông Nguyễn Ngọc Long (bên trái) chia sẻ ký ức về những lớp học, những ngày sơ tán năm 1972.

Còn ông Nguyễn Ngọc Long cũng không thể nào quên những năm tháng sơ tán khi ông mới tám, chín tuổi (đang là học sinh Trường Tiểu học Cát Linh). Nghe loa thông báo lệnh sơ tán khẩn cấp, ông trở về nhà và thấy bố mẹ đang chuẩn bị quần áo, sách vở để đưa ông về quê ngoại ở khu vực Chương Mỹ - Chùa Trăm Gian. “Tôi cũng không hiểu sơ tán là gì. Chỉ biết là mình sẽ về bà ngoại ở và học ở đó”, ông Long kể.

Tại nơi sơ tán, lớp học ban đầu được bố trí trong chùa làng; bên ngoài có hệ thống hầm trú ẩn. Sau vài tháng, khi bom đạn ác liệt hơn, lớp học chuyển xuống hầm. Học sinh cùng thầy cô và người dân địa phương tham gia đào hầm, đào hào. Trong một lần đào hầm, ông Long bị bạn cuốc vào gót chân, được một đơn vị bộ đội phòng không gần đó đưa đi cấp cứu. Vết sẹo trên chân vẫn còn đến nay.

Bên cạnh giờ học, ông Long nhớ những ngày được các bạn nông thôn dẫn đi khám phá đồng ruộng, bắt châu chấu, mò cua, bắt ốc và học cách làm đồ chơi từ những vật liệu sẵn có. Những trải nghiệm ấy trở thành một phần ký ức của cậu học trò Hà Nội trong những ngày sơ tán.

Đặc biệt, ông Long nhớ những đêm cuối tháng 12/1972, khi từ vùng sơ tán nhìn về Hà Nội. “Trong đêm tối, cả Hà Nội sáng rực như một chảo lửa khổng lồ. Tiếng bom, tiếng máy bay B52 gầm rú bầu trời”, ông kể. Sau khi trở về Hà Nội, ông chứng kiến khu phố Khâm Thiên nơi gia đình sinh sống bị bom đạn tàn phá.

Qua những câu chuyện cụ thể của các nhân chứng, tọa đàm tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô, khi trường lớp phải sơ tán nhưng việc dạy và học vẫn được duy trì trong điều kiện chiến tranh. Những ký ức về lớp học, sinh hoạt, ăn ở và những khó khăn mà thầy trò trải qua đã góp phần làm rõ một lát cắt của đời sống giáo dục Hà Nội trong những năm tháng này.

Trải nghiệm làm mũ rơm thời chiến tại Bảo tàng Hà Nội.

Bên cạnh tọa đàm, chương trình còn có triển lãm ảnh tư liệu, trình chiếu hình ảnh, phim tư liệu và không gian “Lớp học thời chiến”; tổ chức trải nghiệm làm mũ rơm, khiên rơm, hầm trú ẩn chữ A; giao lưu, hỏi - đáp giữa nhân chứng với học sinh, sinh viên và công chúng. Bảo tàng Hà Nội đồng thời ghi âm, ghi hình lời kể của các nhân chứng phục vụ công tác lưu trữ, nghiên cứu và phát huy giá trị tư liệu tại Bảo tàng Hà Nội.

Thông qua chương trình, Bảo tàng Hà Nội tiếp nhận thông tin, tài liệu, hình ảnh và hiện vật liên quan đến trường học, lớp học và đời sống sơ tán thời chiến. Những bức ảnh, sách giáo khoa, vở ghi, giáo án, thư từ, đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập và kỷ vật của thầy trò được kêu gọi cung cấp, chia sẻ hoặc trao tặng, góp phần bổ sung nguồn tư liệu phục vụ công tác sưu tầm, nghiên cứu, lưu trữ và trưng bày./.

Thụy Phương