Chấp niệm của tôi - 5 cửa ô Hà Nội
“Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về”, câu hát đã đi sâu vào trong ký ức của như biết bao thế hệ người dân đã lớn lên và sinh sống tại Hà Nội. Nhưng với bản thân tôi, đó không chỉ là câu hát gắn bó từ thuở cắp sách tới trường, mà dường như còn là chấp niệm không thể nào xóa bỏ. Để rồi sau này khi đã đọc nhiều tư liệu nghiên cứu, niềm tin về “năm cửa ô” vẫn luôn tồn tại trong tâm trí tôi.

Giấy khai sinh của bố tôi có ghi huyện Thanh Trì, đến năm tôi ra đời thì viết là quận Hai Bà Trưng, rồi tới lượt em tôi lại là quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ba tờ giấy với ba cái tên quận huyện khác nhau của thành phố, nhưng thực chất lại đều ở cùng một nơi, là căn nhà mà các cụ tôi đã xây cất nên từ những năm đầu thế kỷ. Làng trong phố, đó là cách người thời đó thường nói về mấy khu dân cư giáp ranh kiểu như vầy.
Nhà tôi sống cùng ông bà nội ở đầu làng, gần với đường Minh Khai, nơi mà hình như từ xa xưa đã được gọi là xóm Chùa, xóm Đình. Còn nhà ông bà ngoại tôi lại ở đoạn cuối làng, vốn là những ruộng rau muống sau được Nhà nước cho xây thành những khu tập thể cấp cho cán bộ. Tuổi thơ tôi là không biết bao lần rong ruổi trên con đường giữa hai ngôi nhà ấy, nơi có cây hoa gạo đỏ rực trời tháng ba, những bụi tre xanh với những đuôi lá hơi ngả vàng, và cả con mương mà xưa nay đã là ranh giới giữa hai làng Hoàng Mai và Mai Động. Đáng tiếc là lúc tôi sinh ra thì con mương ấy đã không còn phục vụ tưới tiêu mà là nơi đổ nước thải sinh hoạt, chứ nếu không tôi cũng có thể tưởng tượng bản thân thành chủ thể trữ tình trong bài “Nhớ con sông quê hương” của Tế Hanh được đấy.
Nhưng nói gì thì, chính trên con đường ấy tôi đã lần đầu được biết đến cái gọi là “cửa ô Hà Nội”.
Đó là vào cuối tháng 9 năm lớp 4, khi cái dịu dàng của hương cốm, cái ngọt ngào của bánh Trung thu và cái nồng nàn với người này nhưng “nồng nặc” với người khác của hoa sữa đã trở nên quen thuộc, Hà Nội bắt đầu bước vào những ngày tháng trọng đại kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng. Chiếc loa phường của UBND phường Mai Động cũng thường xuyên phát những ca khúc đã in sâu vào tâm trí bao thế hệ người dân Thủ đô, trong đó không thể không nhắc đến bài “Tiến về Hà Nội” mà cố nhạc sĩ Văn Cao đã chắp bút. Trùng hợp thay, lúc đó trường tôi cũng bắt đầu cho học sinh học hát bài này, nên nếu đã ai từng đi dọc theo bờ mương qua đình Mai Động, và tình cờ thấy một cậu nhóc lớp 4 cứ không ngừng nghêu ngao “…năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về…” thì rất có khả năng đó chính là tôi đấy.
Mê hát là thế, nhưng khi đó tôi lại chẳng có khái niệm gì về cửa ô Hà Nội cả. Trong trí tưởng tượng ngây ngô của một đứa nhóc thì phải chăng đó là những chiếc ô đầy màu sắc được treo trên dây, để khi những tia nắng xuyên qua sẽ hiện lên rực rỡ vô cùng? Bố tôi nghe xong thì cười bảo không phải đâu, đó là cái cổng thành từ thời xưa rồi ấy. Thấy thằng con có vẻ không hiểu ông lại dành một ngày đèo nó lên Hàng Chiếu ngắm Ô Quan Chưởng trông như thế nào. Còn ông nội thì thực tế hơn, trực tiếp mở mấy bộ phim cổ trang, kiếm hiệp, cung đấu Trung Hoa đang chiếu trên khắp các đài, và chỉ cho thằng cháu thấy rằng cái cổng mà dân chúng các nơi phải xin lính canh cho phép ra vào trong kinh thành kia, đó chính là cửa ô đấy.
Lớn lên chút nữa, tôi bắt đầu biết đạp xe rong ruổi khắp các ngõ ngách phố phường của thành phố, và lẽ dĩ nhiên là thường xuyên bị lạc. Thế nên trong giỏ xe bao giờ cũng phải có một tấm bản đồ, loại của NXB Bản Đồ mà bên trái là các quận trung tâm, bên phải là riêng khu phố cổ và phía sau thì thêm cả các huyện ngoại thành nữa ấy. Nhưng khoan, từ từ đã, sao trên đó lại đếm được tận sáu cửa ô? Ô Yên Phụ, ô Cầu Giấy, ô Chợ Dừa, ô Cầu Dền, ô Quan Chưởng, ô Đống Mác. Vậy chẳng phải là khác với câu hát “năm cửa ô đón chào đoàn quân tiến về” mà tôi đã nghêu ngao trên con đường làng trong phố, bên bờ mương, dưới những bóng tre rì rào suốt những năm cuối thời tiểu học đó ư? Cũng không hiểu vì lý do gì mà khi ấy tôi đã không cố gắng tìm ra câu trả lời cho thắc mắc của chính mình, chỉ có niềm tin của bản thân vẫn chắc chắn về “Năm cửa ô Hà Nội”.
Lại bẵng đi một thời gian, khi chuyện học hành rồi những niềm vui, sở thích mới khiến tôi quên đi hứng thú một thời về lịch sử của thành phố ngàn năm tuổi. Có lẽ là khi con mương chia giữa hai làng Hoàng Mai và Mai Động được cống hóa và thành đường lớn, những bụi tre và cây gạo cũng bị chặt đi, rồi kế hoạch giải tỏa mặt bằng các tuyến Minh Khai, Đại La để xây dựng đường vành đai 2 bắt đầu được tiến hành, tôi cũng như bao nhiêu người đã gắn bó với mảnh đất này ngần ấy năm, lại bồi hồi đắm mình trong những mảng hồi ức. Đó là khoảng thời gian niềm yêu mến lịch sử Thủ đô của tôi trỗi dậy mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào, và không ít những cuốn sách của các cụ Nguyễn Vinh Phúc, Trần Quốc Vượng… lần lượt xuất hiện trong bộ sưu tập của mình. Cũng trong chính khoảng thời gian đó mà tôi đã tìm lại câu hỏi của năm xưa và tự đi tìm lời giải đáp.
Thì ra Hà Nội không chỉ có năm cửa ô, mà tận mười mấy, có khi còn hơn hai mươi cửa. Bản đồ năm 1831 đánh dấu mười sáu nơi, còn trong cuốn “Bắc Thành dư địa chí” liệt kê đến tận hai mươi mốt. Vậy hình ảnh “năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiền về” đã theo tôi suốt thời niên thiếu là xuất phát từ đâu nhỉ? Theo nhà sử học Lê Văn Lan thì cố nhạc sỹ Văn Cao từng chia sẻ rằng, đó là bởi vì ông thấy năm cánh sao vàng trên lá quốc kỳ đẹp quá. Cũng có những ý kiến cho rằng đó là sự nhầm lẫn với năm cửa của Hoàng Thành trong bản đồ 1831: Tây, Bắc, Đông, Tây Nam và Đông Nam.
Nhưng giống như tiêu đề của bài viết, không hiểu sao tôi vẫn giữ nguyên chấp niệm của bản thân về con số “năm” thần kỳ đó.
Có lẽ bởi vì những nổi loạn vừa nhỏ bé vừa muộn màng của đôi mươi? Hay chăng vì những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ đã in dấu quá sâu đến nỗi không muốn để bay mất. Nhưng tôi đã giữ niềm tin ấy cho riêng mình, lặng lẽ tìm hiểu, lặng lẽ đọc sách, lặng lẽ ghi chú lại những dữ kiện mong manh có thể củng cố cho sự cố chấp của mình. Và rồi đến một ngày chút hy vọng nhỏ nhoi đó bỗng chốc vụt sáng lên.
Đó là khi tôi đọc được về giai đoạn lịch sử vào giữa giai đoạn chiến tranh Lê Mạc, cụ thể vào năm 1592 khi Trịnh Tùng ra lệnh phá cho san phẳng thành Đại La, khiến cấu trúc “tam trùng thành quách” không còn. Và phải đến năm 1749 thì mới phục dựng lại với tên gọi Đại Đô nhưng vị trí cũng thay đổi ít nhiều so với trước. Đại Đô gồm tám cửa, phân đều hai bên tả và hữu nên cũng không rõ tổng số tính là tám hay mười sáu đây. Nhưng trong suy nghĩ của tôi lúc bấy giờ, thì phải chăng với một dãy tường thành đã không ít lần bị phá hủy, không ít lần số cửa thành đổi thay, liệu có giai đoạn nào trong lịch sử thành Đại La đã từng tồn tại năm cửa?
Vậy nên tôi đã lật giở hai bộ sử kinh điển là “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Đại Việt sử lược” rồi tìm tất cả những từ khóa “cửa”. Tất nhiên là bản số trên máy tính với lệnh Ctr+F rồi chứ lật từng trang sách giấy thì chịu chết. Và bất ngờ thay, sau khi liệt kê hàng loạt, sử dụng những hiểu biết vốn có của bản thân, tra thông tin trên mạng hay mang đi hỏi, tôi đã đánh dấu chính xác “năm cửa” của vòng thành thứ ba xuất hiện trong cả niên đại thời Lý và thời Trần. Đó là cửa Triều Đông, cửa Tây Dương (tức ô Cầu Giấy), cửa Trường Quảng (tức ô Chợ Dừa), cửa Nam (tức ô Cầu Dền) và cửa Vạn Xuân (tức ô Đống Mác). Tất nhiên cũng có những tên cửa mà bản thân không thể xác định được là thuộc về kinh thành, Hoàng Thành hay một cung điện nào đấy, nhưng ít khi sự chắc chắn về đúng “năm” cửa trên đã giúp tôi củng cố niềm tin của tuổi thiếu niên rằng, đâu đó trong giai đoạn Lý – Trần, kinh thành Thăng Long có thể đã tồn tại chính xác năm cửa?
Sang đến thời Lê sơ, cụ thể là giai đoạn chiến tranh Lê Mạc, tôi đã thấy được những đoạn nói về “Gia Kiều Môn” (cửa Cầu Dừa), “Mộng Kiều Môn” (cửa Cầu Muống) và “Triền Kiều Môn” (cửa Cầu Dền), tức là đã có thêm ô Cầu Muống, tức ô Đồng Lâm hay ô Kim Liên mà hiện nay là gần công viên Thống Nhất. Điều khiến tôi chú ý đấy là khu vực cửa thành mới này trong các bản đồ xưa sẽ dẫn vào một vùng ao hồ rộng lớn, nên phải chăng nó ít trở nên thông dụng và hiếm khi được nhắc đến trong văn hóa dân gian. Cái nữa là vì sao trong tất cả các tên cửa ô từ trước đến nay thì chỉ ba nơi này cùng ô Cầu Giấy là có chữ “cầu”? Liệu có thể là con đường đi qua chúng đều phải qua sông Kim Ngưu cổ, nên sẽ cần một chiếc cầu dẫn lối? Đã có nhiều tranh cãi xung quanh việc ô Cầu Giấy là chỉ cây cầu bắc qua sông Tô Lịch thuộc địa phận làng Cót (Yên Hòa), hay là cái cầu chợ nơi người ta bán giấy ở khu vực bến xe Kim Mã ngày nay. Nhưng với việc chỉ những cửa ô cần đi qua sông mới có tên cầu, thì tôi sẽ nghiêng về giả thuyết của làng Cót.
Còn gì để nói nữa không đây nhỉ? Nhiều lắm, nhưng thực sự tôi chẳng nhớ được điều gì có thể chia sẻ thêm. Chỉ mông lung rằng, biết đâu đấy khi nhớ rằng nước ta đang trong Lý – Trần, thì kinh thành Thăng Long có thể đã từng tồn tại năm cửa. Và điều này, cũng chỉ là có thể, đã đi vào tiềm thức dân gian suốt cả ngàn năm nay, như tên gọi Cầu Dền dẫu cả thiên niên kỷ trôi qua cũng vẫn không thay đổi. Có thể điều tôi khẳng định là đúng, cũng có thể hoàn toàn sai, nhưng ít ra chấp niệm của tuổi thiếu thời đã được thổi hồn bằng một niềm tin rực sáng, để tôi có thể tiếp tục nghêu ngao hát “năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về” mà không phải tự nhủ rằng “Hà Nội không chỉ có năm cửa ô”.
Những năm gần đây, tôi vẫn thường hay phóng xe trên những nẻo đường đã từng tồn tại điều xưa cũ. Khi thì đi dọc theo đường Láng qua Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, chéo xuống Hàng Cót, Hàng Lược, Chả Cá, lại đâm sang Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Chợ Gạo với niềm vui thích rằng mình đang “ngược dòng sông Tô”. Hay đôi lúc lại phi lên những ngã tư nơi có các cửa ô xưa cũ để hoài niệm về quãng đời thiếu niên đầy vô tư lự. Những cửa ô hầu hết đã không còn, con mương đã cống hóa, những bụi tre xanh và cây gạo đã chỉ còn kỷ niệm. Nhưng vẫn còn đó cái mùi thơm phức của quán mỳ vằn thắn trên đoạn đường Hàng Chiếu đi ra ô Quan Chưởng, nơi bố đã đưa tôi vào ăn trong lần đầu giải thích cửa ô thực chất là gì, và cả miền ký ức tuổi thơ sẽ không bao giờ trôi vào quên lãng./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Vũ Trung Công Nhật. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.