Những người “giữ lại” Hà Nội
Có những buổi sáng, Hà Nội thức dậy bằng những âm thanh rất khẽ. Tiếng chổi tre trên vỉa hè, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng xe đạp lướt qua con phố còn bảng lảng sương. Và đâu đó, giữa 36 phố phường, vẫn có những âm thanh mà tưởng như đã thuộc về một Hà Nội xa xưa: Tiếng búa gõ vào đe, tiếng giấy sột soạt dưới bàn tay người viết chữ, tiếng gọi nhau mua gói cốm, tiếng người bán hoa báo mùa đang tới.

Hà Nội hôm nay đã đổi thay rất nhiều. Những phố nghề xưa nay chen giữa những cửa hàng hiện đại; những căn nhà từng là nơi sản xuất, buôn bán của các phường nghề nay đã mang diện mạo khác. Nhưng lạ thay, thành phố vẫn giữ được thứ rất khó gọi tên. Có lẽ đó là ký ức và nó không tự nhiên mà còn. Nó được giữ lại bởi những con người bình dị, những người có khi cả đời chỉ làm một nghề, đứng một góc phố, ngồi bên một bếp lửa hoặc lặng lẽ đi tìm và ghi chép những gì Hà Nội đang dần quên.
Ở Hàng Bạc, nghệ nhân Nguyễn Chí Thành là một trong những người như thế. Hơn sáu thập kỷ gắn với nghề kim hoàn, ông vẫn ngồi bên bàn làm việc, kiên nhẫn với từng miếng bạc nhỏ. Hàng Bạc hôm nay đã khác xa một phố nghề xưa nhưng trong căn nhà của người nghệ nhân ấy, tiếng búa vẫn vang lên. Một tiếng búa rất nhỏ giữa phố phường ồn ào nhưng đủ để nhắc rằng nơi đây từng có cả thế giới của những người thợ kim hoàn.
Nghề thủ công có một thứ mà máy móc khó thay thế, đó là ký ức nằm trong đôi tay. Người thợ không chỉ biết làm một sản phẩm mà họ biết nhìn màu kim loại, nghe tiếng búa, cảm nhận độ nóng và sửa lỗi nhỏ bằng kinh nghiệm tích lũy qua hàng chục năm. Vì thế, khi một nghệ nhân còn ngồi bên bàn làm việc, nghề ấy vẫn còn “sống”. Và khi tiếng búa cuối cùng im tiếng, không chỉ một công việc mất đi mà một phần ký ức của con phố cũng có thể khép lại.
Từ Hàng Bạc đi về phía Lò Rèn, câu chuyện ấy hiện lên rõ hơn. Tên phố vẫn còn nhưng nghề từng làm nên cái tên ấy đã gần như biến mất. Chỉ ở số 26 Lò Rèn, ông Nguyễn Phương Hùng vẫn giữ một bễ lửa. Ông là đời thứ ba trong gia đình theo nghề rèn. Thanh thép đỏ rực được đưa ra khỏi lò, đặt lên đe, rồi tiếng búa nện xuống. Những tia lửa nhỏ bắn ra, sáng lên trong khoảnh khắc rồi tắt. Có lẽ đó là hình ảnh cô đọng nhất về những người đang giữ nghề ở Hà Nội: Họ biết thời gian không đứng về phía mình nhưng vẫn kiên trì giữ lửa.
Nếu ông Thành, ông Hùng giữ Hà Nội bằng đôi tay và ngọn lửa thì nghệ nhân Lê Đình Nghiên giữ một phần ký ức kinh thành bằng màu sắc. Ông là nghệ nhân tiêu biểu của dòng tranh Hàng Trống - dòng tranh dân gian từng gắn với đời sống văn hóa của Thăng Long. Những bức tranh thờ, tranh Tết với nét vẽ mềm mại, màu sắc được tô bằng tay từng hiện diện trong nhiều gia đình Hà Nội. Đến nay, khi nghề đã mai một, việc ông kiên trì phục dựng, gìn giữ và truyền dạy kỹ thuật làm tranh khiến những sắc màu tưởng đã lùi vào quá khứ vẫn còn cơ hội hiện diện trong đời sống hôm nay.
Tranh Hàng Trống không đơn thuần chỉ là một bức tranh mà nó là cách người xưa nhìn về cuộc sống, về thần linh, về cái đẹp và những mong ước đầu năm. Cũng như những ông Đồ mỗi dịp Tết lại ngồi bên nghiên mực, trải giấy đỏ, nắn nót từng nét chữ. Người Hà Nội hôm nay có thể không còn xin chữ theo cách cha ông từng làm nhưng mỗi khi Tết đến, hình ảnh ông Đồ lại khiến một phần không khí xưa trở về. Một chữ Phúc, chữ An, chữ Tâm hay chữ Đức mang theo một lời cầu chúc, một quan niệm sống và một ký ức văn hóa.

Những người giữ Hà Nội vì thế không chỉ là những nghệ nhân có tên tuổi. Có người giữ bằng nghề, có người giữ bằng chữ, có người giữ bằng câu chuyện. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến đã dành nhiều năm lần tìm những lớp ký ức của thành phố qua những con phố, căn nhà, món ăn, nghề nghiệp và những con người bình dị. Trong những trang viết của ông, Hà Nội không chỉ có những biểu tượng quen thuộc mà còn có đời sống sâu hơn, nơi mỗi góc phố đều có thể mở ra một câu chuyện.
Còn nhà báo, nhiếp ảnh gia Hà Hồng lại dành nhiều năm đứng bên Hồ Gươm để “nhìn” thành phố qua ống kính. Hồ Gươm trong những khuôn hình của ông không chỉ có Tháp Rùa và mặt nước mà có những hàng cây, những gương mặt, những người lao động, những buổi sớm và những mùa đi qua. Một bức ảnh giữ lại một khoảnh khắc; hàng nghìn bức ảnh qua năm tháng có thể trở thành ký ức bằng hình ảnh của cả thành phố.
Nhưng Hà Nội không chỉ được giữ trong những cuốn sách, những bức tranh hay những bức ảnh. Hà Nội còn được giữ bởi những con người mà mỗi ngày chúng ta vẫn đi ngang qua mà ít khi để ý. Đó là những người bán hoa. Hà Nội có một cách rất riêng để nhận biết thời gian. Sen xuất hiện là mùa hè về. Cúc họa mi xuống phố là mùa đông đã chạm ngõ. Những bó loa kèn trắng báo tháng Tư. Những gánh cốm trong lá sen khiến người ta nhận ra mùa thu. Những người bán hoa có thể chỉ nghĩ mình đang mưu sinh nhưng những chiếc xe chở hoa đi qua phố vào sáng sớm đã trở thành một phần ký ức thị giác của Hà Nội.
Và rồi cốm. Một gói cốm xanh được gói trong lá sen ẩn chứa phía sau cả một nghề với những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác: Chọn lúa, rang, giã, sàng, giữ từng hạt cốm vừa mềm vừa thơm. Người làm cốm không chỉ làm ra món ăn mà họ làm ra… mùa thu. Cũng như những nghệ nhân trà, những người giữ cách ướp sen, những người làm món ăn gia truyền, họ đang giữ một phần hương vị của thành phố bằng những điều rất nhỏ.
Những con người ấy không thể làm Hà Nội đứng yên và có lẽ họ cũng không muốn thế. Thành phố phải phát triển, những con phố phải thay đổi, những nghề mới phải xuất hiện. Điều họ cố giữ không phải là một Hà Nội “bất động” mà là những giá trị khiến Hà Nội, dù đi xa đến đâu, vẫn nhận ra mình. Bởi vậy, giữ Hà Nội đôi khi chỉ là giữ một tiếng búa, một nét chữ, một màu tranh, một hương trà, một gói cốm, một mùa hoa hay một câu chuyện để người sau còn biết rằng nơi này đã từng sống như thế./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Ngô Khiêm. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.