Ngọn đuốc rối nước quê
Lâu ngày chưa về quê, một sáng mùa hạ, trời trong xanh, mây trắng bồng bềnh, gió thoảng nhẹ như mùa thu, một ngày đẹp trời rất hiếm trong tháng 6 khắc nghiệt của mùa hè. Bữa đó tôi rủ lũ bạn thân sống trong lòng Hà Nội nơi phố phường hào nhoáng nhưng ồn ào, bụi bặm đến nghẹt thở, về thăm quê mình “Làng nghề truyền thống múa rối Đào Thục” xã Thư Lâm ngoại thành, một vùng đất có truyền thống văn hóa, giầu lòng yêu nước ở Kinh Bắc xưa. Đặc biệt hàng trăm năm nay làng tôi giữ một kho báu hiếm có là di sản nghệ thuật múa rối nước rất độc đáo của vùng lúa nước đồng bằng Bắc bộ. Đó là niềm tự hào của dân làng tôi...

Chẳng mấy khi có cơ hội về với ruộng đồng thoáng đãng của vùng ngoại ô cây bạt ngàn xanh tươi mát mẻ, bọn tôi cưỡi xe máy len lỏi theo con đường nhỏ chạy giữa cánh đồng mênh mông hơn chục cây số để tận hưởng hương sen ngào ngạt và vị nếp cái Hoa vàng thơm thơm còn đọng lại trong từng gốc rạ ở các thửa ruộng hai bên đường bốc lên thoang thoảng. Đứa nào cũng mở căng lồng ngực hít thật sâu tận hưởng không khí thoáng mát trong lành mà chẳng mất một xu lệ phí bù cho những ngày ngột ngạt, oi bức đến khó chịu ở nội đô.
Đến nơi chúng tôi chưa vào làng vội, kéo nhau lên đê ngắm cảnh ngôi làng nằm sát triền đê sông Cà Lồ, thời xưa có tên nôm Kẻ Đầu, tự Đào Xá. Nay là Đào Thục.
Trong làng mái nhà tranh vách đất, lũy tre, hàng rào râm bụt cây cau đống rơm… đã bị Diêm Vương gọi về từ lâu, nhường chỗ cho những ngôi nhà cao tầng hiện đại đủ kiểu dáng lô xô chen nhau vươn lên trời. Nét cổ xưa của làng Việt cổ giờ chỉ còn lại ở mái đình, mái chùa, cây đa chứng kiến những dấu tích thời xa xưa.
Thời Vua Hùng thứ 6 là một dãy dấu chân ngựa sắt của Thánh Gióng. Ngày đó, Ngài nhổ những bụi tre đằng ngà vung lên, xác giặc Ân như ngả rạ dưới chân Ngài. Lập xong chiến công vang dội giữ làng, giữ nước, Ngài phi thẳng lên Núi Sóc về trời trình tấu Ngọc Hoàng dân tộc Việt Nam có truyền thống khi “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, trẻ nhỏ bỗng thành dũng sĩ. Để giờ con cháu hát vang khúc ca hào hùng của tác giả Thanh Phúc và Hải Hồ…
Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi
Thế tiến công như sức mạnh thần kỳ…
Thời hòa bình, An Dương Vương đắp thành Cổ Loa dựng xây đất nước vào năm 258 thế kỷ thứ III trước Công Nguyên, bị Kê Tinh phá rối, vị sư Huyền Thiên Trấn Vũ võ thuật cao cường trụ trì ở Thánh Phúc Tự (chùa của làng Đào Xá) đến giúp diệt trừ và cùng dân làng góp công sức xây đắp Cổ Loa Thành. Hiện nay Huyền Thiên Trấn Vũ được dân làng dựng tượng tôn thờ tại chùa Thánh Phúc.
Vậy là từ đầu thế kỷ III trước Công Nguyên làng Đào Xá (Kẻ Đầu) đã có mặt trên đất bãi phù sa phì nhiêu sông Cà Lồ, một con sông nhỏ uốn lượn như dải lụa trong tay vũ nữ rất thơ mộng, nước chảy hiền hòa, lơ thơ như dòng sông Cầu mà nó đổ vào ở Ngã Ba Xà. Tại ngã ba này có ngôi Đền Xà trên 1500 năm tuổi, nơi phát tích bài: “Nam quốc sơn hà” (1077) là lời Tuyên ngôn đanh thép về chủ quyền lãnh thổ của nước ta. Khiến giặc Tống kinh hồn bạt vía lùi lũi rút quân...
Đến cuối thế kỷ XIX làng Đào Xá đổi là Đào Thục. Tôi thích tên Đào Thục hơn.
Tôi cảm ơn các cụ đã đổi “Xá” thành “Thục”. Bởi lẽ “Thục” trong câu “Thục nữ yểu điệu” chỉ người con gái, dịu dàng, nết na, đức hạnh… khéo tay cày, hay tay rối. Phụ nữ Đào Thục quê tôi là vậy. Không những thế Đào Thục còn có ý ca ngợi phụ nữ làng tôi rất xinh. Có một câu ca truyền tụng từ thời làng mang tên Đào Xá:
Đào Xá có đất trồng bông
Con gái ra đồng trông tựa tiên sa.
Vâng. Dân làng tôi: Giặc đến anh dũng chiến đấu giữ nước. Hòa bình hăng say lao động xây dựng quê hương. Nhưng trong cuộc sống không chỉ cần “Bánh mỳ” mà phải có “Hoa hồng”, như bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” (Nguyễn Duy)
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Do vậy dân làng tôi ngoài sản xuất nông nghiệp cấy lúa, trồng mầu, đã sớm tiếp thu nghệ thuật rối nước độc đáo để đời sống tinh thần dân làng phong phú hơn.
Từ hơn 300 năm trước, nghệ thuật rối nước tràn về Đào Thục là do ông Đào Đăng Khiêm (Nguyễn Đăng Vinh) người con của làng mang về truyền cho dân.
Đào Đăng Khiêm làm quan Tổng Thái Giám đời vua Lê Hy Tông (1675-1705) Dân làng gọi là Đào Tướng Công. Năm Tướng Công 47 tuổi nhà vua sai ông cùng một đào hát trẻ và trên chục ca nương xinh đẹp về Đào Thục xây dựng làng. Tướng Công xin được đưa thêm chàng Tễu linh hồn của nghệ thuật rối nước về theo.
Tễu ta mừng khấp khởi, lập tức nhét tất cả bầu đoàn thê tử họ hàng nhà mình vào đôi bồ quảy theo Đào Tướng Công về Đào Thục.
Vốn sinh ra từ tầng lớp nông dân hiền lành ở chốn làng quê, nay trở về nơi “Chôn nhau cắt rốn” Tễu rất vui. Vừa đến ao đầu làng, Tễu nhảy ngay xuống, đứng sừng sững giữa ao, cặp mắt hí hước, ngâm mấy câu lục bát giới thiệu về mình:
Cởi trần đóng khố múa chơi
Hát rằng giữa đất và trời có ta
Đất là mẹ, trời là cha
Chính danh là Tễu, tục là thảo dân.
Từ ngày đó chàng “Thảo dân” mang hết tài năng cùng các ca nương phò tá ông Đào Đăng Khiêm lập phường rối nước Đào Thục.
Rối nước Đào Xá hay rối nước Đào Thục chỉ là tên gọi xưa và nay của một ngôi làng nằm bên bờ sông Cà Lồ như mô tả trên. Phường rối nước Đào Thục coi ông Đào Đăng Khiêm là Tổ nghề. Sau khi ông mất dân làng lập đền thờ giỗ hàng năm.
Điều mà dân làng tôi tự hào là “Phường rối nước Đào Thục với nghệ thuật độc đáo, được coi là một trong những làng cổ xưa nhất của nghệ thuật rối nước Việt Nam trên 300 tuổi”. Đây là một di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc, nổi tiếng khắp trong và ngoài nước”.
Ngay từ thời Lê Trung Hưng, với sự giầu có qua câu vè “Khó Kẻ Đầu còn hơn giầu Hàng Tổng”, cùng với nhiều trò rối nước độc đáo và các con rối tự chế tạo khác biệt mà các phường rối nước khác không có, phường rối nước Đào Thục nổi tiếng khắp nơi đâu đâu ai cũng biết và truyền tai nhau câu nói cách đây 300 năm “Nhất Kinh kỳ, nhì Đào Xá”. Câu đó chả hiểu đúng đến mức nào. Nhưng nghe vậy dân làng nghê truyền thống rối nước Đào Thục trong đó có tôi vui khôn xiết.
Đứng ngắm chán chê cảnh làng, bọn tôi rủ nhau xuống đê. Vừa đến đầu làng đã thấy Tễu ta đứng trên nóc cổng làng với dáng mập mạp, bụng phệ tượng trưng cho sự no đủ, đầu to, khuôn mặt tròn nụ cười tươi, hóm hỉnh, phúc hậu, chân quê hiện thân của triết lý sống lạc quan yêu đời, đầy khát vọng, cặp mắt ánh lên niềm vui thân thiện đón chúng tôi.
Dân làng ai cũng mến chú Tễu. Chú và họ hàng đã thắp cho ngọn đuốc rối nước Đào Thục sáng bừng lên. Chắp cánh cho phường rối Đào Thục mang loại hình nghệ thuật dân gian rối nước chỉ có ở Việt Nam sang Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Hà Lan, Nhật Bản trình diễn, khiến cho rối nước quê tôi nổi như cồn, tiếng tăm lừng lãy… Văn hóa làng xã là đây, văn minh lúa nước cũng là đây. Ngày hội làng, tết Nguyên Đán, nông nhàn, dân quanh vùng nô nức đến xem đông vui hơn trảy hội.
Bên thủy đình loại sân khấu có sàn diễn độc đáo, không gian văn hóa đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, ở đây bọn tôi gặp một số bác chừng 70 tuổi đã từng điều khiển con rối như nghệ nhân Nguyễn Thị Thỏa, Nguyễn Thi Thu... Các bác nay dáng vẫn xinh, hát vẫn hay, tay múa vẫn dẻo như thời son trẻ, vừa hát vừa múa rất tự nhiên. Bác Thỏa hồ hởi bộc bạch “Chúng tôi là những nghệ sĩ ngâm mình dưới nước trong buồng trò âm thầm giấu mặt điều khiển con rối phía ngoài, xấu đẹp không ai biết hệt như điệp viên bí mật”. Ồ ra thế! nghệ nhân rối nước là vậy.
Có thời gian tưởng như mất nghề. Nhất là thời toàn dân dốc sức cho cuộc đánh Mỹ giải phóng miền Nam. Nhiều phen đã tưởng ngọn lửa rối nước làng tôi tắt ngóm, cuốn theo chú Tễu sang thế giới bên kia với cụ tổ nghề.
Nhưng không. Các nghệ nhân như Nguyễn Thị Thỏa, Nguyễn Đức Cường Đặng Thị Thuận (Nay đều trên 70 tuổi) đã cùng các nghệ nhân khác trong đội dưới nước, đội nhạc công trên cạn và các thợ tài hoa chế tác con rối mặc dù bận rộn tay súng, tay cày vẫn đam mê không bỏ nghề. Đam mê đến mức ngày quần quật ngoài đồng cày cuốc, trực chiến, tối rủ nhau tập luyện giữ nghề, giúp nghệ thuật dân gian rối nước truyền thống của làng tồn tại và phát triển. Ngọn đuốc thủy đình Đào Thục đã không bị tàn lụi mà còn sáng khắp nơi. Từ đó Đào Thục có biệt danh rất ấn tượng “Làng kể chuyện trên nước”. Như vậy hơn 300 năm qua, dân Đào Thục vừa làm ruộng, vừa làm nghệ thuật, đòi hỏi mỗi người phải vươn lên để vừa là lão nông tri điền cần cù, dãi nắng dầm mưa; vừa là nghệ nhân tài hoa, sáng tạo, đam mê nghệ thuật. Việc nào người dân làng tôi cũng giỏi.
Gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Phi một thợ chế tác quân rối, một người đặc biệt hết lòng với nghệ thuật rối nước truyền thống của làng, tôi hiểu được nhiều điều.. Cách đây chừng 20 năm, ngày trở lại với nghề, vào kho chứa các quân rối, anh rất buồn thấy nhiều quân rối bị hư hỏng, lớp sơn bong tróc, bạc màu do thời gian. Anh chất các quân rối lên xe cải tiến kéo về xưởng mộc. Ban ngày anh lo việc nhà và công việc của thôn, tối tối anh ở xưởng với “rối nước làng nghề”. Mình anh ngày đêm hì hụi, lọ mọ trong xưởng mầy mò sửa chữa những quân rối hỏng, tỉ mỉ sơn lại chúng. Hầu như anh sống với các quân rối ở xưởng nhiều hơn ở nhà với vợ. Không cần biết tiền công được bao nhiêu, “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Nhiều người bảo anh là “Hâm”. Phi “Hâm”. Cũng may vợ anh nghệ nhân Nguyễn Thi Thuận điều khiển quân rối loại gạo cội rất hiểu việc làm và sự đam mê của chồng với nghề cổ truyền cha ông nên rất thông cảm… Nếu không thì… Vâng nếu không thì lôi thôi to và những quân rối của phường thành đống gỗ mục nát. Nhóm bếp không xong.
Nhờ đôi tay khéo léo, đầu óc sáng tạo và tâm hồn lạc quan của “Phi hâm” sửa chữa quân rối cũ, tạo tác quân rối mới và thổi hồn vào cho các quân rối gỗ vô tri biền chúng thành những nhân vật có tâm hồn sống động khi vào vai diễn. Nhờ các nghệ nhân Nguyễn Thị Thỏa, Ngô Minh Phong, Nguyễn Thi Thuận, Đinh Hữu Tự có suy nghĩ đúng đắn “Tham gia biểu diễn là để giữ gìn nghề rối nước truyền thống, là để khơi lên ngọn lửa say mê với nghề cho bản thân và cho thế hệ trẻ trong làng”. Rồi nhờ các nghệ nhân lão thành trong nghề như Nguyễn Văn Tiệp, Đào Văn Nghiêm, Nguyễn Thế Nghị, Đinh Thế Văn… luôn tìm cách đổi mới tích trò cho phù hợp với thời đại. Tất cả các nghệ nhân đều say sưa biểu diễn, miệt mài truyền lửa cho thế hệ trẻ. Đã kích động sự sáng tạo và lòng say mê nghề rối nước ở con cháu.
Những tấm gương của các nghệ nhân sống chết với nghề như trên, không phân biệt dâu hay rể đã làm cho làng rối nước Đào Thục tỏa sáng. Ví dụ vào thập niên 90 của thế kỷ XX có nàng dâu hát hay múa giỏi là thành viên của phường rối nước quê chồng đã tích cực tham gia phong trào xây dựng phường, mặc dù con nhỏ đang cần sữa mẹ mà chị vẫn sẵn sàng nhờ mẹ chồng chăm sóc con để cùng các nghệ nhân của phường nhà mang trò “Lên võng xuống ngựa” thuộc loại độc bản phải có kỹ thuật cao mới diễn nổi đi đọ sức với 5 phường rối nước khác của thành phố Hà Nội. Sau mấy ngày trình diễn, phường rối nước Đào Thục được đánh giá cao.
“Gái có công chồng chẳng phụ”. Lãnh đạo các cấp thành phố Hà Nội và các cơ quan chức năng trong ngành nghệ thuật múa rôi như Hiệp hội Múa rối thế giới, Nhà hát Múa rối Thăng Long đã nhận ra sự cố gắng của phường rối Đào Thục nên hết sức hỗ trợ giúp phường rối Đào Thục phát triển, giữ nghề rối nước cổ truyền.
Bao năm nay, tại thủy đình, trên sân khấu mặt nước trước buồng trò, đã nhiều lần chú Tễu cùng họ hàng diễn những tích trò cổ thấm đẫm triết lý nhân sinh: cái thiện thắng cái ác, người lao động được tôn vinh, tình nghĩa xóm làng được đề cao, ngoài ra còn diễn các tích trò đương đại như: Tặng hoa ngày hội - Rước ảnh Bác Hồ - Hà Nội 12 ngày đêm, mang ý nghĩa sâu sắc, giáo dục cao.
Đặc biệt tích trò Hà Nội 12 ngày đêm đã giúp khán giả biết được đỉnh cao trí tuệ, sáng tạo của nghệ thuật quân sự và bản lĩnh kiên cường của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến năm 1972 vít cổ Pháo Đài Bay B52 hạ uy tín không lực Hoa Kỳ trước bàn dân thiên hạ. Trong chiến dịch đó người con ưu tú làng Đào Thục là cựu chiến binh, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đại tá, nghệ nhân Đinh Thế Văn đã trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 77 tên lửa bắn hạ 4 Pháo Đài Bay B52 của Mỹ.
Rối nước Đào Thục giầu bản sắc dân tộc không chỉ là nghề mà là linh hồn của một làng quê, là ký ức tuổi thơ và là sợi dây kết nối với tổ tiên đã tham gia các Festival Huế, Đà Lạt, tham dự liên hoan nghệ thuật múa rối toàn quốc. Đặc biệt, tại 3 kỳ Liên hoan múa rối nước Hà Nội, Phường rối nước Đào Thục đã đạt giải Nhất năm 2016, giải Nhì các năm 2019 và 2023. Một thành tích đáng nể.
Múa rối nước Đào Thục – di sản văn hóa phi vật thể quốc gia – là niềm tự hào của nhân dân Thư Lâm nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chẳng mấy chốc thị trấn Đông Anh sẽ là thành phố lớn, dân đông, cần phải có nhiều điểm vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần. Với khoảng cách không xa, làng nghề rối nước Đào Thục có cơ hội phát triển mạnh hơn nữa.../.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Ngô Hương Lan. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.