Phố cũ làng xưa - ngày ấy, bây giờ
1/ Tôi sinh ra tại Hà Nội, mồ côi mẹ từ lúc lên 3. Mẹ tôi ra đi khi còn rất trẻ, để lại cho ba tôi 4 người con, tôi là út, trên tôi còn 2 chị và anh trai cả. Vì hoàn cảnh, ba tôi tục huyền. Mẹ kế chúng tôi gọi bằng mợ, thương yêu con chồng như con đẻ, chăm sóc chu đáo, tận tình.

Nhà tôi ở phố Gambetta, con đường rợp bóng với những hàng cây cổ thụ cao vút, có vỉa hè thoáng mát nơi tôi thường nô đùa cùng chúng bạn đồng trang lứa cũng con em công chức xung quanh. Tôi sống với ba mợ tại Hà Nội, các anh chị và bà nội ở Sơn Tây, đi học. Năm 1945 nạn đói xảy ra, trước mắt tôi — cậu bé 6 tuổi — là khung cảnh nhốn nháo, trộm cướp diễn ra hàng ngày. Gần nhà tôi có quán bán nước chè xanh, nơi dừng chân nghỉ ngơi của mấy bác phu xe và các gánh hàng rong. Trưa hè yên ắng nọ, bỗng vang lên tiếng hô hoán cùng tiếng bước chân đuổi theo rầm rập. Thì ra có kẻ vừa cướp giật bánh kẹo rồi bỏ chạy. Người hàng quán lập tức lao theo đuổi bắt. Bất chấp sự vây đuổi quyết liệt, kẻ trộm vẫn nhanh chân thoát mất.
Phố tôi ở, ngày ngày thường thấy những chuyến xe bò lặng lẽ qua đi dưới tấm chiếu phủ kín. Cảnh tượng trầm ảm và đau thương khôn tả. Năm 1946, khi kháng chiến bùng nổ, mợ dẫn tôi lên Sơn Tây đón bà cùng các anh chị rồi đưa tất cả tản cư về làng Bồ Nâu (Bạch Nao), xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Cùng thời điểm đó, gia đình các cô chú từ Hải Phòng, Sơn Tây cũng tìm về tề tựu. Đại gia đình quây quần sum họp trong ngôi nhà ba gian hai chái của ông nội để lại, còn ba tôi vẫn ở lại Hà Nội tiếp tục làm việc.
Ít lâu sau hung tin đưa về, ba tôi mất tại nhà thương Phủ Doãn không thân nhân bên cạnh. Mợ tôi tức tốc cùng chị lớn quay lại Hà Nội. Chiến sự gia tăng. Cô chú tiếp tục di chuyển vào sâu hơn, miệt Vân Đình, Ứng Hòa. Anh tôi lúc này 20 tuổi đã theo kháng chiến, nhà chỉ còn hai chị em 7, 8 tuổi sống với bà nội già yếu hỏng cả hai mắt đã lâu. Từ đây, chị em tôi bắt đầu chuỗi ngày cơ cực. Anh tôi thỉnh thoảng ghé về thăm nhà, cùng với toán thanh nhiên tập hợp thiếu nhi trong xóm, dạy đi đều với gậy nhỏ trên vai, học hát "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng". Bọn trẻ chúng tôi thích thú bởi xưa nay hàng ngày chỉ quanh quẩn với đánh đáo, pháo đất, ô ăn quan. Làng tôi là làng Việt Minh nên quân Pháp thường xuyên càn quét thả bom. Mỗi khi mở trận càn, chúng tới vùng trên Úc Lý, Tam Đa dưới này dân làng tôi đã biết, gồng gánh, bồng bế dắt trâu bò vượt đồng làng tới gò cao phía xa lánh nạn. Bà cháu tôi không chạy được đành trốn trong góc nhà. Giặc tràn vào làng nổ súng đùng đùng, lùng sục khắp nơi. Chúng đi từng tốp 5-6 tên, hầu hết Tây đen, không theo cổng chính mà luồn lách trong vườn thông từ nhà nọ sang nhà kia, ập vào. Thấy bụi dâu lay động mạnh, chị em tôi biết chúng đã vào tới nhà mình. Sợ hãi, nín thở. Lên thềm, bước qua ngưỡng cửa, thoáng thấy bóng người chúng chĩa súng lên đạn rôm rốp.
Ôi, những tên Ma-Rốc-Keng-Tây- Đen- Rạch- Mặt, dân làng gọi thế trông mới khiếp làm sao, cao lênh khênh như cột nhà cháy, mặt mũi đen như nhọ chảo, môi dày mắt trắng dã, má chằng chịt những vết sẹo lồi. Chị em tôi không còn hồn vía, nép sát lòng bà miệng đang lâm râm niệm Phật. Nhìn cụ già mù lòa cùng 2 đứa trẻ run như cầy sấy co rúm trong xó nhà, chúng hiểu, lục soát một hồi rồi kéo nhau ra ngoài. Có lần chúng vào, một tên leo lên phản giật phăng cái va li trên nóc tủ quăng rầm xuống đất, quần áo cũ văng tung tóe, chúng xì xồ lục lọi khắp nhà mãi mới bỏ đi. Mỗi lần Tây về làng, bà cháu tôi lại đói khát cả ngày, sợ hãi không dám rời nhau nửa bước.
Trốn giặc đã thế, chạy bom còn khổ gấp bội. Nghe tiếng máy bay, bà bảo dắt xuống bờ ao ẩn nấp vì nhỡ bom bỏ trúng nhà. Một tay chị níu tay bà, tay kia bà vịn vai tôi. Cứ thế bà cháu dắt díu nhau men theo đường dốc gập ghềnh sỏi đá, cỏ mọc um tùm xuống bờ ao sau nhà chạy trốn. Máy bay gầm rú trên trời, bom nổ dậy đất, hoảng loạn nhiều lần bà cháu vấp ngã dúi dụi trong bụi cỏ bờ ao. Những lúc ấy bà cháu chỉ biết ôm nhau khóc. Anh về, chị tôi kể lại, anh nhờ người đào cho cái hầm trong nhà, song cũng chỉ để mỗi khi có tiếng máy bay bà cháu chui xuống, giặc càn không dám vì sợ chúng vào thấy có người dưới hầm bắn xuống. Một dạo tôi vào sống với cô ruột trong xóm Đống, nhà tôi xóm Dâu. Chạy Tây, cô dìu tôi bì bõm vượt cánh đồng mênh mông nước ngập ngang bụng, trong cái rét cắt da mùa đông, đạn réo trên đầu. Lần ấy chẳng may có người lạc đạn chết, làng xóm xót thương.
Lần khác, một buổi chiều tà, vẳng trên cao có tiếng máy bay bà già, chỉ trong thoáng chốc khu trục ào tới, sà sát mái nhà thả bom. Lửa cháy ngùn ngụt, khói đen nghi ngút tối sầm, nhà cửa tan hoang, tiếng khóc than thảm thiết vang khắp xóm làng. Từ nhà cô, tôi hoảng hốt chạy về, suốt quãng đường dài lo sợ cứ nức nở. Tới nhà thấy bà và chị không sao, bà cháu mừng tủi ôm nhau trong nước mắt vắn dài. Từ đấy tôi không ở đằng cô nữa, về nhà, chị em bà cháu có nhau. Tuổi thơ chị em tôi trải qua những tháng năm kinh hoàng như thế.
Rồi chú tôi hồi cư, trên đường đi ghé qua làng đón tôi theo cùng, về Hải Phòng. Năm sau chú đón tiếp bà và chị ở quê, rồi đến chị lớn lúc đó đang sống với mợ tôi tại Hà Nội. Sẩy cha còn chú, chị em tôi được chú thương tình bảo bọc cưu mang. Từ đấy chúng tôi theo chú vào Nam sinh sống cho đến bây giờ.
2/ Năm 2025, tôi mới có dịp trở lại nơi chôn nhau cắt rốn sau 80 năm tha phương, nhân chị em tôi về thăm mồ mả tổ tiên, ông bà cha mẹ tại quê nhà, làng Bồ Nâu (thôn Bạch Nao), Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội. Máy bay thấp dần trên không phận Nội Bài, trong tôi đã bồi hồi xao xuyến, bước ra cửa khoang, giây phút được hít thở không khí Hà Nội sau bao năm xa cách, lòng xúc động nghẹn ngào. Xe vào thành phố, cảnh vật khác lạ hẳn, 80 năm còn gì. Đường về quê, xưa vời vợi, nay chỉ 20 phút, xe đến tận cổng làng. Họ hàng, bạn bè người quen đón sẵn, tay bắt mặt mừng, vòng ôm siết chặt. Làng tôi cũng đã thay đổi hoàn toàn. Tam quan không còn, nơi lũy tre làng ngày cũ nay là nhà cửa san sát khang trang. Đường trong làng càng lạ. Xưa, vào nhà ông tôi phải bước 5,7 bậc mới lên tới cổng, giờ đã ngang bằng. Đối diện nhà ông, trước kia là nhà thờ tổ với sân dài ao rộng tiếp giáp mặt đường, bây giờ là nhà cửa, cao tầng con cháu trong họ... "Thương hải biến vi tang điền ", vật đổi sao dời, dâu bể, song tình làng nghĩa xóm không hề đổi thay, tình cảm tấm lòng người dân quê tôi vẫn thế, vẫn thân thiện hiền hòa, cởi mở bao dung.
Lâu ngày gặp lại thôi thì đủ chuyện, suốt sáng thâu đêm. Dăm ngày ngắn ngủi sao đủ hàn huyên tâm sự, nói sao cho hết chuyện dài từ thuở cùng nhau đánh đáo chơi bi, giờ đã là ông nội bà ngoại con cháu đầy đàn. Dẫu vậy, sắp xếp thời gian, tôi viếng Đại Bi Tự - Chùa Bạch Nao, ngôi cổ tự hơn 400 năm tuổi, từ thời Trần - Mạc thế kỷ XVII. Qua cổng Tam quan, cây gạo cổ thụ đỏ rực sừng sững giữa sân chùa, phía sau ao sen xanh ngát điểm bông. 26 pho tượng Phật lớn nhỏ trang nghiêm bên trong chính điện, cùng nhiều hạng mục giá trị ngàn xưa, cùng góp phần hoàn thiện cấu trúc tổng thể ngôi chùa cổ kính. Năm 2008 Đại Bi Tự đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.
Cách đó không xa, tôi vào thăm đình Bạch Nao di tích lịch sử, với truyền thuyết Vườn Trúc sau đình vua từng ngự giá. Tương truyền đời Hùng Vương thứ 18, vua Hùng Duệ Vương dùng voi tuần thú phương này, ngài dừng chân nghỉ tại vườn trúc phía sau đình Bạch Nao, nay còn vết tích. Chẳng may voi bệnh chết, vua tiếc thương cho mai táng, mình voi nằm trên đồng Tri Lễ xã Tân Ước, đuôi chạm đồng Bồ Nâu xã Thanh Văn. Từ đấy, cánh đồng Bồ Nâu còn gọi là cánh đồng Đuôi Voi. Nói về đồng Bồ Nâu, phải nhắc đến lúa gạo canh tác tại nơi này, có chất lượng vượt trội so các đồng khác dù cấy trồng cùng chủng loại. Với thổ nhưỡng màu mỡ thêm khí hậu đặc trưng mưa muộn "Mưa khắp đâu đâu, Bồ Nâu kêu cầu, trời chửa mưa cho", cây lúa đồng Nâu luôn xanh tốt, năng xuất cao và cho ra hạt gạo trắng trong, cơm thơm dẻo, hương vị đặc biệt. Gạo Bồ Nâu vì thế từng là đặc sản tiến vua. Và mới có tục ngữ "Gạo đồng Nâu, trâu đồng Đám" để vinh danh sản phẩm trứ danh, hạt gạo của cánh đồng Bồ Nâu, ca ngợi con trâu nuôi thả tại đồng Đám xã Đại Áng huyện Thanh Trì béo tốt khỏe mạnh, sức cày bền bỉ. Đồng Bồ Nâu nay còn cung cấp cho thị trường loại gạo Bắc Thơm 7 nổi tiếng thơm ngon, được người tiêu dùng khắp nơi ưa chuộng. Hiện tại thôn Bạch Đa (sau sáp nhập thôn Bạch Nao và thôn Tam Đa), chính quyền và nhân dân địa phương vẫn tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng nâng cấp hệ thống giao thông, trùng tu tôn tạo di tích lịch sử, đình chùa (khánh thành đình Bạch Nao 9/11/2025, Đại Bi Tự 3/5/2026), cải thiện ổn định cuộc sống dân sinh (di dời chợ Bồ Nâu 12/2/2026)... với mục tiêu tạo lập một Bạch Đa phát triển toàn diện, góp phần xây dựng xã Tam Hưng ngày càng vững mạnh.
3/ Xong việc nhà, chúng tôi trở ra Hà Nội. Bịn rịn chia tay, người này ít trái cây vườn nhà, người kia lít rượu ngon tự ủ, rồi vài cân nếp ruộng gia đình, những món quà quê đơn sơ gói trọn tấm lòng thật trân quý. Tại Thủ đô, tôi có dịp viếng Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, vãn cảnh chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh... Đặc biệt, ghé thăm Bưu Điện Hà Nội, nơi ba tôi từng làm việc ngày trước. Vào trong đi vòng một lượt tìm dấu tích xưa, xúc động lặng người, ghé quầy mua ít con tem, vài tấm bưu thiếp như để lưu lại chút kỷ vật của đấng sinh thành. Tôi cũng không quên tìm về phố cũ Gambetta nơi tôi sống thời thơ ấu, con đường ngày xưa trầm lắng yên tĩnh nay đã là đường Trần Hưng Đạo sầm uất tấp nập với những dãy nhà cao tầng bề thế, những cơ quan chính phủ, ngoại giao đoàn, những hoạt động tài chánh ngân hàng sôi động, nhà hàng khách sạn cao cấp. Hà Nội ngày nay mang diện mạo mới, sắc thái mới văn minh, hiện đại, năng động đáng tự hào. Thời gian lưu trú đã hết. Buổi sáng trước khi lên đường trở về thành phố Hồ Chí Minh, tôi kịp tản bộ ngắm cảnh Hồ Gươm trong chốc lát. Sớm tinh mơ, trời rét căm căm sương mù dày đặc. Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn chìm trong màn sương. Xa xa Bưu Điện Hà Nội thấp thoáng, ẩn hiện trong không gian mờ đục, lại gợi nhớ hình bóng ba tôi, cảm giác bâng khuâng nhẹ dâng trong lòng. Toàn cảnh Hồ Gươm huyền ảo, đẹp như tranh. Trên đường ra sân bay, nhìn cảnh quan phố phường nhộn nhịp, tôi cảm nhận Hà Nội hôm nay thay đổi từng ngày, tiến bộ không ngừng, phát triển mọi mặt. Trong tôi, dấy lên niềm tin vững chắc vào một tương lai tươi sáng của thành phố tôi yêu. Tôi bùi ngùi giã từ Hà Nội, trong lòng cảm xúc đan xen.
Giờ đây, ở tuổi 87 xế chiều tôi vẫn đau đáu ước mơ trở về Hà Nội lần nữa, đi thăm di tích, thắng cảnh danh lam, thăm phố cũ Gambetta- Trần Hưng Đạo, làng xưa Bồ Nâu - Bạch Đa để lại thấy những nơi này thay đổi, tiến bộ, phát triển từng ngày hướng tới tương lai ngày càng tươi sáng, rực rỡ hơn nữa.
Liệu ước mơ của tôi có thành sự thật?
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phạm Duy Cẩn. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.