Có một ngôi làng như thế
Cách đây chừng 700 năm vùng đất có 72 gò đất sét trắng ở ngoài đê bãi sông Hồng sinh ra một ngôi làng mà chẳng giống làng. Bởi đã không có lũy tre ấm cúng bao quanh như các làng Việt khác, lại không có rặng trúc, ô rô, duối hoặc mồng tơi làm rào, giậu ngăn các nhà, các ngõ như trong thơ Nguyễn Bính:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Những rào giậu bằng cây xanh như “cái giậu mồng tơi” vừa mát mắt vừa để chàng, nàng vạch cõi trốn mẹ cha sang nhau lãng mạn đậm chất quê như thế này:
Hai nhà cách giậu trúc xinh
Trăng lên vạch cõi chúng mình sang nhau
Ngôi làng đó quả là đặc biệt. Không có lũy tre, hàng giậu xanh mát, không có ruộng, không có trâu bò, không có cả đất làm nghĩa trang. Muốn có nơi ở vĩnh viễn cho người thân cũng phải mua đất của làng khác trong đê.
Nhưng làng lại có nghề thủ công lâu đời rất nổi tiếng. Sản phẩm của làng từng được chọn làm cống phẩm Trung Quốc thời Nhà Minh.
Bản tính dân lảng này rất cần cù, khéo tay. Phụ nữ buôn bán giỏi giang, đảm đang hết mực đã đưa làng thành một trong những làng khoa bảng tiếng tăm lấy lừng ở đồng bằng Bắc Bộ.
Làng chia thành hai khu như khu phố cổ và khu phố mới ở nội đô Hà Nội
Khu làng cổ với những cổng vòm nhỏ trầm mặc cổ kính, những ngõ hẹp, điển hình của sự hẹp. Đó là xóm 1 và xóm 2 nằm sát bờ sông Hồng. Những con ngõ thu mình lại chỉ hai người đi lọt để nhường chỗ cho sản xuất. Ngõ xưa lát gạch chỉ nghiêng, nay lát gạch Bát ấm áp tình quê, ngoắt nghoéo, hun hút giữa các bức tường gạch cao với màu đặc trưng. Cái màu chỉ làng này có. Tính đặc thù của cổng, của ngõ đã tôn vẻ huyền bí ma trận thu hút khách vãng lai.
Khu làng mới hiện đại. Đường xá thênh thang ô tô xe máy ngược xuôi nườm nượp. Nhà tầng ngạo nghễ vút lên tận mây, với trăng sao trong kỷ nguyên mới.
Muốn hiểu về ngôi làng cổ này một cách đầy đủ, sâu sắc, bạn hãy thả bộ vào khu làng cổ (Đặc biệt Xóm 1). Vào đây nhẹ bước trong ngõ, ta có cảm giác như bị các bức tường cao nuốt chửng trong ngõ hẹp sâu thăm thẳm. Cứ thế nó đưa ta lạc vào những hoạt động cổ xưa của một làng nghề.
Đâu đây trên các bức tường còn hằn lên vết mờ mờ tròn đen của những nắm than cám trộn bùn ấp vào phơi cho khô để làm nhiên liệu đốt lò nung gốm.
Có thể nói những con ngõ nhỏ hẹp còn ám khói là chứng nhân chép sử của làng nghề gốm thủ công một thời với các loại lò đã từng xả khói cuồn cuộn lên trời làm ô nhiễm bầu không khí, xả xỉ than làm bẩn xóm ngõ như lò Ếch, lò Đàn đốt bằng củi, lò Bầu (lò Rồng) to lớn đốt củi hoặc than, loại lò Đứng đốt than, nay chúng đã theo nhau cáo chung nhường chỗ cho loại lò áp dụng công nghệ sạch đốt bằng gas, bằng điện vừa bảo vệ môi trường vừa tạo ra dòng sản phẩm chất lượng cao. Công nghệ sạch hiện đại đã thay đổi diện mạo của làng nghề đó.
Tại xóm 3, rất may hiện nay có 1 lò Bầu Cổ còn sót lại, nơi lưu giữ giá trị văn hóa, là điểm hút khách đến với làng gốm cổ. Tại đây du khách chiêm ngưỡng thân lò Bầu có dáng 5 hoặc 7 vỏ sò úp nối nhau cao dần. và được ngồi bên bàn xoay vuốt đất trải nghiệm quy trình làm gốm như một nghệ nhân.
Ở hai khu làng cổ và mới, thay cho cái “Giậu mồng tơi” là những bức tường gạch cao, ôm chặt con ngõ nhỏ hẹp, là mặt tiền những ngôi nhà tráng lệ, hào nhoáng bày lọ lục bình, đồ mỹ nghệ tinh xảo của làng gốm. Những sản phẩm này đã từng bay đi, và hạ cánh xuống bảo tàng một số nước Á, Âu, Bắc Mỹ.
Ngôi làng đặc biệt nói trên là làng gốm Bát Tràng nổi tiếng ai cũng biết.
Cho nên dẫu ở trong Nam hay ngoài Bắc, ở miền biển hay chốn sơn khê ta chỉ cần nói “Tôi quê Bát Tràng” là mọi người biết ta sinh ra, lớn lên ở nơi nào.
Sự hình thành làng gốm Bát Tràng bắt nguồn sau khi Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đầu thế kỷ XI. Sự kiện đó làm kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) trở nên hoang phế, Vào thế kỷ XIV-XV các chủ lò gốm làng Bồ Bát Ninh Bình giong buồm ngược sông Hồng mang sản phẩm ra kinh đô Thăng Long.
Trên đường đi, đoàn thuyền đã gặp vùng có 72 gò đất sét trắng ở bãi sông Hồng, loại đất sét nguyên liệu làm gốm giống như ở Bồ Bát, đồng thời có vị trí thuận lợi “Cận thị. Cận giang” là điều kiện tốt cho nghề gốm phát triển. Mọi người neo thuyền lên bờ sau đó đưa họ hàng đến sinh cơ lập nghiệp.
Khởi đầu dựng làng nơi “Đất khách quê người” dân làng Bồ Bát Ninh Bình gặp muôn vàn khó khăn bởi “Xảy nhà ra thất nghiệp”. Trong hoàn cảnh đó mọi người đoàn kết, gắn bó với nhau, vượt mọi khó khăn, gian khổ chung tay lập nên làng nghề sản xuất gốm với tên Bạch Thổ Phường. Sau đó gọi là làng gốm Bát Tràng nổi tiếng. Tên Bát Tràng được dùng đến ngày nay.
Vì vậy trong dịp lễ tết trên mâm cỗ của các dòng họ ở Bát Tràng luôn có hai món đặc biệt nhưng rất gần gũi cơm nắm và cháo nấu nhừ đậm tính nhân văn …
Cơm nắm, biểu trưng cho tình đoàn kết keo sơn bền chặt bên nhau giữa các dòng họ thuở sơ khai dựng làng như những hạt cơm trong nắm cơm
Cháo nhừ nhắc cháu con nhớ lại ngày đầu trên mảnh đất Bạch Thổ ở bãi sông Hồng thời hoang sơ rất thiếu thốn, mọi người đã đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, con chấy cắn đôi, “Rau cháo có nhau” lập nên quê mới. Đó là truyền thống của dân tộc ta từ ngàn xưa trong dựng xây đất nước.

Bát Tràng là tên sản phẩm gốm tiếng vang lừng lẫy xa gần được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước. Những sản phẩm gốm đó do mồ hôi của người thợ thủ công thấm vào đất sét Bạch Thổ sông Hồng, và được lửa trời hun đúc trong lò nung mà thành. Từ thời vua Lê Thái Tổ gốm Bát Tràng đã được chọn làm cống phẩm cho triều đình Trung Quốc. Mặc dầu ở Trung Quốc có gốm sứ Giang Tây rất nổi tiếng. Gốm Bát Tràng chẳng thua kém ai. Tự hào lắm.
Bát Tràng còn là tên một làng cổ với những đặc điểm đặc biệt như nói ở trên. Làng có ngôi đình thuộc loại to và đẹp ở xứ Kinh Bắc. Trải qua bao thăng trầm, đình còn giữ được nhiều loại sắc phong và câu đối. Đặc biệt là câu đối sau:
Bồ di thủ nghệ khai đình vũ,
Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
Tạm dịch: Đem nghề từ làng Bồ ra dựng xây đền miếu
Lòng thành kính tựa hương lan dâng tạ thánh thần
Xem thế quê cha đất tổ dân làng Bát Tràng ở Bồ Bát Yên Mô Ninh Bình.
“Chim có tổ người có tông”, đại diện dân Bát Tràng nhiều lần về quê cũ, chốn xưa, thắp nén nhang kính bái tổ tiên. Bảo tồn nếp sống văn hóa của dân tộc.
Chiều chiều ông cháu tôi ra đình hóng gió sông Hồng. Con sông ngầu phú sa vừa hiền hòa thơ mộng vừa hung dữ bạo tàn lượn ngay trước cửa đình. Dòng sông ấy gắn bó với làng tôi từ thuở hồng hoang sinh cơ lập nghiệp cho đến nay.
Thằng cháu nhập với đám bạn chạy nhảy thỏa thích trên sân đình lát gạch Bát (tên ngắn gọn của gạch Bát Tràng) có màu đỏ trầm truyền thống, mộc mạc, tự nhiên của đất nung ở nhiệt độ cao. Có độ bền vĩnh cửu trước mọi tác động của thiên nhiên, của con người. Không bị rêu phong hoặc trơn trượt, ẩm mốc...
Màu sắc trong mỗi viên gạch không hoàn toàn đồng nhất. Có sự chuyển màu nhẹ, tạo cho toàn bộ diện tích sân hoặc ngõ lát loại gạch này có vẻ đẹp đầm ấm, độc đáo hài hòa đa dạng. Màu Bát Tràng. Không đỏ au một màu đơn điệu như các loại gạch lát khác. Khiến ta ngắm mãi không thấy chán.
Gạch Bát Tràng có loại gach bảy xây tường, loại gạch bát lát sân, thường dùng xây dựng cung điện, kinh thành, đình chùa và nhà của các gia đình giầu có quyền quý. Vì thế các chàng trai thường lấy hai câu sau trong một bài ca dao:
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…
Vừa thả thính, vừa ngầm khoe với các bóng hồng gia cảnh nhà mình, đồng thời ca ngợi loại gạch Bát Tràng quý giá, nổi tiếng lâu đời.
Tôi và vài cụ ngồi thanh thản trước cổng đinh ngắm cảnh hoàng hôn lãng mạn bảng lảng, long lanh dưới sông. Sắc chiều chuyển dần từ vàng nhạt đến vàng cam rồi vàng mật ong. Không xa, cây cầu Thanh Trì căng như sợi chỉ chăng ngang sông Hồng, cũng chìm trong ráng chiều đỏ vàng tô cho dòng sông thêm thơ mộng. Cảnh hoàng hôn này đã níu chân, níu tâm hồn mọi người.
Mặt trời xuống dần, ánh chiều tà khơi dậy trong tôi những hoài niệm man mác về quê mình từ mấy trăm năm trước, thới còn hoang sơ. Và rồi trong tôi bỗng trào dâng cảm xúc tự hào về ngôi làng cổ mang tên gốm Bát Tràng thân thương với những đồ gốm cho sinh hoạt, cho mỹ thuật và cho xây dựng nổi tiếng, có mặt khắp nơi trong nước và ở nhiều bảo tàng các nước trên thế giới.
Chừng như chạy nhảy đã chán, thằng cháu kéo tôi đi xuôi dọc bờ sông Hồng về phía cửa sông đào Bắc Hưng Hải ngay rìa làng. Cửa con sông đào ấy xưa vốn là đất cư trú của dân làng Bát Tràng nên có nhiều kỷ niệm với mọi người trong đó có tôi. Theo đường trải nhựa chạy dọc sông đào, ông cháu tôi đến “Trung tâm Tinh hoa Làng nghề Việt Nam”. Nhưng dân làng tôi thường gọi bằng cái tên rất đỗi giản dị, nhưng đầy tự hào, hãnh diện “Bảo tàng gốm Bát Tràng”.
Khối nhà chính của Bảo Tàng soi bóng xuống cửa sông đào Bắc Hưng Hải có kiểu dáng độc đáo đầy tính nghệ thuật với các vòng xoay xoắn ốc và các đường cong mềm mại, uốn lượn xếp chồng lên nhau, mở rộng dần lên trên như cây nấm khổng lồ, có màu nâu đất trầm ấm mộc mạc, màu của đất sét trộn phù sa Sông Hồng gây ấn tượng mạnh mẽ. Tòa nhà đó lấy cảm hứng từ hình tượng chiếc bàn xoay, lò nung là những công cụ gắn bó suốt đời với dân nghề gốm thủ công, giống như con trâu, cái cày gắn với người nông dân Việt Nam vậy. Bảo tàng gốm Bát Tràng biến làng tôi thành bức tranh đẹp không thể tả nổi.
Thật vinh hạnh, Bảo tầng gốn Bát Tràng được coi là một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất thế giới. Nơi đây trưng bày hàng ngàn hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20 là di sản thủ công truyền thống hơn 700 năm tuổi, đủ các loại gốm gia dụng, gốm kiến trúc, gốm trang trí với kiểu dáng đa dạng, kích thước lớn bé khác nhau. Từ lọ lục bình cao lừng lững to đùng một vòng tay ôm không xuể đến những đồ gốm lưu niệm nhỏ xíu đáng yêu nguyên hình hay nứt vỡ hoặc một số sản phẩm bị dính vào nhau trong quá trình nung.
Nhưng thật tiếc. Trong bảo tàng vắng bóng những con giống gốm mỹ nghệ nhỏ xinh, ngồ ngộ của những năm 1960 đến 1970 thế kỷ XX. Như chú thỏ, chị cò, anh chó, đôi mèo đáng yêu, gần gũi với dân gian …Đặc biệt cặp mèo nhỏ xinh, dễ thương, ngộ nghĩnh đẹp tuyệt vời ngồi nép bên nhau ai cũng thích không kể tuổi tác. Nhất là đám thanh niên độ tuổi trăng tròn. Cặp mèo được chàng nàng tặng nhau khi chàng lên đường vào Nam đánh Mỹ. Họ ngầm nhắc nhau chung thủy, sắt son. Nơi chiến trường cặp mèo theo chân người lính đi khắp nơi, “Đánh cho Mỹ cút. Đánh cho Ngụy nhào” như lời Bác Hồ kính yêu.
Đến nay chắc chắn có nhiều cặp mèo xinh xinh của Bát Tràng vẫn ở bên hoặc trong tim người lính Cụ Hồ nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn hoặc dưới lòng đất nhiều nơi trên chiến trường miền Nam, Sự vắng bóng của những con giống nhất là cặp mèo nói trên trong bảo tàng, thật chả đáng tiếc lắm sao!
Làng Bát Tràng có 5 loại men cổ là tinh hoa là “áo giáp” màu phủ bên ngoài giúp sản phẩm không thấm nước, tăng độ bền, tăng giá trị thẩm mỹ tạo nên thương hiệu của làng nghề, để gốm Bát Tràng nổi tiếng khắp nơi và có mặt trên thị trường Tây Âu, Nhật và Bắc Mỹ. Đó là các loại men:
Men Lam thanh tao, sâu lắng. Men rạn cổ kính, huyền bí. Men nâu trầm ấm, mộc mạc, gần gũi. Men trắng ngà thanh khiết, trang nhã. Men ngọc sang trọng cao quý và vĩnh cửu.
Người dân Bát Tràng tài hoa, cần cù trong lao động sản xuất; nhạy bén sắc sảo trong kinh doanh. Đặc biệt phụ nữ Bát Tràng khéo léo, đảm đang, quán xuyến mọi việc, để chồng con ăn học thành đạt. Khiến Bát Tràng trở thành làng khoa Bảng trong số các làng khoa bảng danh tiếng. Làng có 1 trạng nguyên, 8 tiến sĩ và 2 quận công. Nhiều chàng ao ước “Được làm trai Bát Tràng” là vì thế.
Người dân Bát Tràng có truyền thống yêu nước sâu sắc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh đuổi đế quốc Mỹ giành độc lập tự do cho Tổ quốc, làng có 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng mimh chứng cho lòng yêu nước ấy.
Trong hòa bình người dân Bát Tràng đã hy sinh lợi ích riêng để xây dựng đất nước mạnh giầu. Năm 1958 có 150 hộ dân Bát Tràng tự nguyện dời đi nơi khác để lấy đất đào đoạn sông làm đường dẫn nước sông Hồng vào trạm bơm Xuân Quan cung cấp nước cho Đai thủy nông Bắc Hưng Hải giúp hàng ngàn hec ta lúa của ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương thoát cảnh chiêm khê, mùa thối, chuyển từ cấy một vụ sang cấy hai vụ. Nhân dân miền Bắc không còn cảnh đói nghèo triền miên như xưa. Cũng từ đó cánh đồng ba tỉnh trên trở thành kho lương thực nuôi quân góp phần vào chiến thắng vĩ đại 30-4-1975 Mỹ cút, Ngụy nhào. Giang sơn thu về một mối. Thành tựu trên của đất nước có một phần đóng góp của dân làng Bát Tràng chúng tôi.
Đến giờ mỗi lần dạo chơi bên cửa sông đào Bắc Hưng Hải, trong tôi lại hiện lên những thảm vàng hai bên bờ Đại thủy nông chạy tít tắp chân trời với những đàn chiền chiện vút cao hót véo von vang lừng dưới ánh nắng ban mai ửng hồng rực rỡ. Tôi rất tự hào dân làng tôi đã chung tay tạo nên bức tranh tuyệt vời này.
Trong tôi còn giữ nhiều kỷ niệm sâu đậm từ thời ấu thơ cho đến giờ đã “Thất thập cổ lai hy” về làng Bát Tràng quê mình –Làng gốm thủ công nổi tiếng- được vinh danh là thành viên của “Hội đồng Thủ công Thế giới”.
Thật vinh dự cho Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng làng gốm Bát Tràng đã ghi một chấm son trên bản đồ làng nghề thủ công toàn cầu./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phùng Khánh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.