Mẹ Hà Nội và những vạt phù sa bồi đắp tâm hồn tôi
Có vạt đất người ta dạt tới nương nhờ bấu víu, rịn mồ hôi rồi tự thuở nào hóa thành quê nhà. Hà Nội với tôi là một miền bén rễ thầm thì như thế. Những bóng người muôn năm cũ lẳng lặng lướt qua, vương lại vài vạt phù sa, đủ để gã trai quê mùa tự biết nhen tàn lửa, ủ ấm những đêm sương.
Năm 2003 - tôi mười tám tuổi. Chiếc xe đạp mòn vẹt, cọc cạch thồ những mơ mộng non nớt chạm thềm phố. Hà Nội đón gã trai quê nhãn bằng những con ngõ nhỏ vắt ngang nhau cùng mảng tường gạch hoen màu rêu cũ. Bước chân giẫm lên lớp lá sấu rụng ven đường Phan Đình Phùng nghe vỡ giòn. Ngước lên chỉ thấy vạt ráng chiều đương thầm lặng lọt qua tán cây dày, rỏ xuống ngõ vắng từng chùm hoa nắng lay lay.

Tháng năm trượt dài trên ngói âm dương. Chiếc xe cọc cạch dằn qua mấy bận trút lá, dằn cả những vết xước tuổi đôi mươi chưa kịp lên sẹo. Có bữa ngồi co ro ở một góc quán nhỏ ngửi mùi cà phê cháy xém, chợt vấp vào một đoạn nhạc Phú Quang bứt ra từ chiếc loa rè. Làn khói mỏng từ tách sành tản vào sương, quyện lấy tiếng ca rạn vỡ.
***
Lách qua cánh cửa khép hờ một chiều chớm đông, cái rùng mình lùi lại bên ngoài căn phòng chất đầy sách của nhà văn hóa Hữu Ngọc. Mùi giấy cũ ngai ngái vương vít, cuộn vào vệt khói trầm lơ lửng. Bậc trí giả 98 tuổi ngồi lọt thỏm giữa không gian ấy, mái tóc cước níu lấy ánh đèn. Đôi bàn tay lấm tấm đồi mồi nâng chén trà. Chậm rãi nhấp. Khẽ khàng. Làn khói mỏng dâng lên, lẩn vào những mép giấy ố vàng. Giọng cụ cất lên trầm ấm, rầm rì hỏi han về những sự quan tâm với đời sống văn hóa xã hội của người trẻ. Rồi rủ rỉ chuyện hồn người bấu vào nếp đất, rằng người ta hễ tuột rễ khỏi phù sa, ắt bồng bềnh vô định.

Chạm tay vào lớp bìa sờn của tập sách. Năm 1997, cuốn “Phác thảo chân dung văn hóa Hà Nội” từ tay cụ đến với khách phương xa trong Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ. Từng con chữ chắt chiu bằng tiếng Pháp, tiếng Anh tết những nhịp cầu. Người khách lật giở trang giấy, bắt gặp một thủ đô rêu phong, bát phở tỏa hương, hay tiếng ca trù thao thức canh khuya.
Rồi cụ nhẹ gót mây ngàn ở tuổi 107. Chén trà năm ấy hẳn đã nguội. Chỉ mùi mực in dường như cứ vương mãi góc phòng.
Sóng Tràng An một chiều hè xa lắc bỗng vọng về tiếng khỏa nước oạp oạp mạn thuyền nan. Bữa đó, tôi ngồi chung thuyền với nhà văn Hoàng Quốc Hải. Nước xanh màu ngọc bích. Tóc ông bạc trắng như mây trôi qua dưới những vòm cây, bóng núi. Ông bận bộ quần áo kẻ sắc đào phai giản dị, vai đeo chiếc túi da lấm tấm xước. Lần khác, tôi đi cạnh ông dưới những tán cây trong khuôn viên chùa Địa Tạng Phi Lai. Mùi hương sen đồng quấn lấy gót êm. Đi cạnh ông, bước chân chợt chậm lại. Bao vụn vặt lo toan chừng như rơi rụng ráo cả xuống thềm rêu.
Mùa thu năm 2023, nắng nhạt dần bên hiên Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Triển lãm gốm "Linh thú thời nay" khá đông người. Tôi lững thững bước qua những dải ánh sáng hắt xuống từ trần nhà, chợt khựng lại. Hai ông cháu va vào nhau.
- Ôi, ông... Gặp lại ông ở đây, con vui quá!
- Cậu đấy à. Lâu lắm chắc cậu chưa về chùa. - Ông nheo đôi mắt nhìn tôi một chốc rồi mỉm cười.
- Dạ vâng. Con giờ bận nên cũng ít về được ạ. Thấy ông còn khỏe thế này, con mừng lắm!
- Cậu cho tôi số. Lúc nào gửi tôi cái video trò chuyện trên sóng nước Tràng An nhé! - Bàn tay mỏng, ram ráp níu lấy tay tôi. Hơi ấm truyền qua từng ngón.
- Ôi, ông vẫn nhớ cái video đó ạ. Con quay vui vui. Để con lựa gửi.
Bỏ tay ông ra, tôi lăng xăng lùi lại tìm góc chụp một bức hình. Có anh bạn vừa đứng cạnh ông xong, đang định bước ra ngoài khung hình. Tôi huơ tay gọi với theo:
- Anh ở đó, ba anh em chụp chung luôn.
Nói xong, vội bụm miệng cười trừ:
- Ối chết, con lại bảo cả ông là ba anh em.
Ông bật cười, tiếng cười vang lên sảng khoái vớt đi cái tĩnh mịch của không gian bảo tàng:
- Không sao, càng vui. Tôi là anh cả!
Tiếng máy ảnh lách cách. Chụp xong, tôi đưa tay ra định đỡ ông bước xuống bậc thềm. Bàn tay ông bám chặt lấy vai tôi. Tưởng ông mỏi, ai dè ông lấy đà, nhún chân đu người lên một nhịp. Nhẹ bẫng. Cái nhún chân thả vào bóng chiều một nét hóm hỉnh của người lúc nào cũng ủ đầy sương sớm.

Nhìn cái đu người nhẹ tênh ấy, chợt thấy chùng lòng. Đôi mắt ông đã kéo mây đục sau hàng vạn trang bản thảo chép tay. Gom góp chút sức già để gọi dậy hồn phách Thăng Long. Người khách trú cặm cụi mượn cạn tháng năm tuổi trời để vá víu những tầng sâu Thăng Long đương chìm khuất qua: “Đuổi quân Mông Thát”, “Thăng Long nổi giận”, “Huyết chiến Bạch Đằng”... Người không sinh ra ở Hà Nội, lại dùng trọn số đếm của đời mình mà khâu vá những tiếng thở dài chìm khuất của Thăng Long. Người ta nhắc nhiều đến những giải thưởng vinh danh ông. Còn tôi, chỉ nhớ cái nắm tay ram ráp và nụ cười hiền khô giữa môt chiều chớm thu bảo tàng dịu nắng.
Lếch thếch rẽ nẻo sương đêm, gót chân dạt về hiên nhà số 51 Trần Hưng Đạo. Nghệ sĩ guitar Hawaii Bùi Bạch Liên lẳng lặng dắt tay tôi bước vào chỗ treo dòng chữ mộc: “Chương trình Khúc hát trữ tình. Chỉ đạo nghệ thuật: Khắc Huề". Bà kể với tôi về những năm tám mươi, cái tên “Chỉ đạo Khắc Huề” ấy từng theo tiếng loa phóng thanh rong ruổi khắp ba miền. Còn bây giờ, ông nép mình về góc phố này. Cứ tối thứ Bảy là thắp đèn. Gần 30 năm ròng rã dọn những "bữa tiệc" âm nhạc nguyên sơ dành tặng cho người yêu nhạc thủ đô.
Đêm ấy, tôi thấy bóng dáng những tên tuổi lớn như Trần Hiếu, Thanh Hoa, Quang Thọ, Đức Long lần lượt bước ra. Họ nấn ná chốn này đơn giản vì nể trọng cái tâm thuần khiết và sự kỹ tính của người cầm vĩ cầm.
Người buông vĩ cất bước. Mắt nhắm nghiền, sợi vĩ lướt trên dây đàn. Giai điệu “Em ơi Hà Nội phố” vang lên. Dáng Nghệ sĩ ưu tú Khắc Huề phiêu theo từng nhịp đàn. Khán giả lặng im, mặc nốt nhạc lơ lửng.

Nhưng nét duyên kỳ lạ nhất của người nghệ sĩ này lại lẩn khuất ở một nếp nhà dung dị. Nơi ấy, ông sống những ngày thong dong. Mùa đông gõ cửa, hàng xóm mang củi lấm bùn sang biếu. Bếp lửa nhóm lên. Mùi khoai lùi cháy xém tỏa ra. Giữa góc vườn hẹp, ông cầm đàn, nhẩn nha kể. Rằng những ngón đàn bật ra say nhất là khi ngửi thấy mùi khói rơm rạ, mùi khoai nướng. Khói bện vào dây đàn. Tiếng vĩ cầm xứ lạ, lọt thỏm giữa lòng phố cổ, qua ngón buông của ông bỗng vương vít mùi lam lũ quê kiểng. Tiếng đàn quyện khói bếp cứ thế phả vào đêm.
Mưa bụi tháng Tám rây mờ phố Nam Ngư. Đâu đó hương hoa sữa đầu mùa thoang thoảng. Một email lọt vào hòm thư. Người gửi xưng chú, ký tên Phú Quang thủ thỉ rằng - đã lặng người khi xem các hình ảnh tôi lồng trong đoạn video trên nền nhạc ca khúc "Hà Nội ngày trở về". Chú ưng cái mộc mạc, không màu mè hoa mỹ trong từng hình ảnh ấy. Cuộc hẹn ở quán cà phê phố Nam Ngư diễn ra ngay sau đó. Yên ắng. Khói thuốc chầm chậm tan...

Giữa mảng không gian bảng lảng sương khói ấy, giọng người viết tình ca trầm đục, rủ rỉ lẩn vào tiếng mưa. Chú bảo, cứ độ cuối thu chớm đông, lòng lại se sắt nẻo về. Phải vịn vào những đêm nhạc để thủ thỉ lời thương, để trút bớt những cồn cào của một dòng sông dẫu bề mặt êm đềm mà đáy sâu sóng cuộn. Khóe mắt nheo lại, vớt vát chút ngày xưa. Mỉm cười xót xa mà bình yên lạ, nhắc vạt ký ức tuổi thơ dẫu vắt qua đạn bom vẫn trong vắt tiếng cười. Nhớ những bận chúm chím môi thổi búp lá đa, nhớ cái dáng lom khom mót dế nhốt vào ống bơ gỉ.
Gót mòn bấu rễ vào phố. Tình đầu cũng rịn rêu phong. Chàng trai Phú Quang bâng khuâng gọi thức bóng hình người con gái trong trẻo, thuở ấy sáng sáng vẫn lẳng lặng dúi vào tay chú mẩu bánh mỳ luộc. Chút ngập ngừng non tơ cất giữ cả một miền dĩ vãng dịu dàng, dẫu dòng đời đã đẩy hai người lướt qua nhau. Nhấp ngụm đắng, người nhạc sĩ khẽ khàng thả vào thinh không: “Đợi đến bận mỏi gối chồn chân, chẳng bôn ba nổi nữa, sẽ nương nấp vào một góc thềm rêu bình dị nào đó của chốn này, nhắm mắt lại để nghe phố thở, và ru mình mường tượng lại nếp ngày xưa…”.
Nhà chú nép cuối ngõ chiều vãn nắng. Vừa chạm cổng, tiếng kèn saxophone miên man dội ra. Ban nhạc đã tập từ sáng. Anh Quyền Thiện Đắc đang phiêu nốt những đoạn nhạc cuối. Nhạc sĩ Phú Quang ghé tai tôi, khẽ dặn tám giờ tối quay lại, chú sẽ đưa xem bản thảo hồi ký đang viết dở.
Căn phòng khách tầng một hút gió. Dưới ánh đèn vàng, chú chìm vào màn hình xem những đoạn băng tôi làm. Còn tôi cúi gập người, nhẩn nha đọc từng trang hồi ký. Tôi bắt gặp một Phú Quang sáu tuổi, mang gương mặt tiu nghỉu đi thi trường múa rồi thở phào vì trượt. Người anh trai lại gò lưng đạp xe đưa cậu đến trường Âm nhạc. Khóa học ấy, mỗi tháng sinh viên nghệ thuật được nhà nước cấp mười lăm đồng bạc lẻ, một cân thịt, cân đường và hai hộp sữa đặc. Nhựa đời tứa ra từ những gieo neo thuở ấy.
Cậu bé ôm chiếc kèn Corno. Ông thầy dạy kèn mang bệnh hay ngủ gật, thiu thiu ngay lúc dàn nhạc đang tấu. Những lúc ấy, cậu học trò nhỏ rón rén chuồn ra vạt vườn sau, ngồi thụp xuống bãi lá mục. Cậu mê mẩn nhặt những chiếc lá rụng đã mủn đi phần thịt, chỉ còn trơ lại đường gân mỏng tang. Ánh mắt trẻ thơ cứ thế lặng lẽ ngắm một vẻ rữa nát đã tàn phai.
Tháng năm trôi. Dòng đời đưa người thanh niên ấy vào phương Nam. Những đêm Sài Gòn xa ngái, cái nắng gắt gao như gọi hơi lạnh xứ Bắc trào dâng. Mùi hoàng lan, hoa sữa lẩn khuất. Tình khúc bật ra lấp đầy mảng sương khói chùng chình vắt ngang nỗi nhớ.
Có một đận tháng Mười, người ta xúm lại hỏi chú có bài hát nào mới về Hà Nội dịp ngàn năm Thăng Long không. Chú cười hiền, bảo chỉ có bài “Mẹ”. Yêu Hà Nội như yêu một người mẹ. Thế là đủ. Như nếp áo bao dung lặng lẽ ủ ấm những ngây dại của đứa con bơ vơ giữa chợ đời. Một tiếng gọi “Mẹ” ngắn mà nặng tình, lẩn vào thinh không, đậu xuống bờ vai gầy cữ giá rét. Đất Kinh Kỳ ủ lấy đám con tứ xứ bằng nếp áo bao dung như thế.

Hôm ấy, tôi rụt rè tiến đến với món quà nắn nót chép tay lồng trong khung ảnh. Một bài thơ tự chắp nhặt từ tên những tình khúc quen thuộc, trong đó có đoạn:
Em đừng hát "Khúc mùa thu”
Trong cơn mưa "Im lặng đêm Hà Nội"
"Chiều không em" tan dần vào tiếc nuối
Mãi xa rồi - "Thương lắm tóc dài ơi"!
Mưa tìm về "Phố cũ của tôi"
"Dương cầm lạnh" "Mơ về nơi xa lắm"
"Giọt thu buồn" "Heo may" "Gửi đôi mắt"
"Ngọn nến" tàn "Cho một người tình xa"
Hờn trách hoài, “Đâu phải bởi mùa thu"
"Tình khúc 24" "Trong miền ký ức"
"Lời tình muộn" trôi về "Hoàng hôn dốc"
Như "Chuyện bình thường cuối cùng" cho "Một dại khờ, một tôi"
Em đừng hát "Dịu dàng ơi"
"Thành phố đêm" thêm dài "Nỗi nhớ"
"Phía tối tâm hồn tôi" - "Nỗi khát khao mặt trời" rực đỏ
"Mùa thu giấu em" rồi - "Hư ảo" một "Lời rêu"...
Chú Phú Quang đỡ lấy món quà, mỉm cười chia sẻ rằng: niềm vui của người vin vào nốt nhạc, vần thơ là tìm thấy sự cảm thông.
Chỗ ngồi ở Nam Ngư giờ đã vắng người quen. Người nhạc sĩ ấy nương mình về cõi sương mây, để lại trần gian dòng sông âm nhạc với hơn 600 ca khúc - trong đó phần lớn là những bản tình ca và đặc biệt là những sáng tác về Hà Nội - cứ mải miết trôi, mải miết chở che.
Chén trà sen Tây Hồ cữ đầu hạ mười lăm năm trước ngun ngút khói, vương nẻo nhớ sang một người nhạc sĩ cắm rễ vào phố thị bằng thứ âm thanh tĩnh lặng: Đỗ Bảo. Bỏ lại vầng sáng huyễn hoặc của sân khấu sau lưng, anh ngồi cùng tôi trong một quán cà phê nhỏ trên đường Nguyễn Chí Thanh, trầm mặc. Đôi mắt giấu kín những ngổn ngang của phím đàn và đời thường.
Bên chén trà sen, anh thủ thỉ. Đời anh lẩn nấp hoàn toàn khỏi ánh đèn sân khấu. Hào quang hay danh vọng dường như rụng ngoài bậc cửa. Ở xóm, anh đi một chiếc xe bình thường, về một ngôi nhà bình thường. “Ra đường mà cứ phải chải chuốt, ngắm mình thật lâu trong gương thì mệt mỏi lắm!”.


Lớp vỏ bình thản ấy cũng từng xước xát. Khẽ miết ngón tay lên vành ly, anh kể về tuổi hai mươi. Cái cữ tuổi người ta đương hừng hực, anh lại hụt chân rơi vào cõi mù sương bủa vây. Thính giác nhạy cảm khác thường, một tiếng động nhỏ cũng làm anh giật mình. Anh sợ âm thanh, sợ chính thứ mình từng bấu víu. Có lúc, anh tính vứt bỏ phím đàn, đi học máy tính kiếm một nghề mưu sinh.
Tự nhặt nhạnh mình sau những lần hụt bước... Ca khúc “Những mùa đông yêu dấu” cất lên. Giai điệu ấy đi cùng tôi suốt những năm tháng giảng đường. Đỗ Bảo đem chất Jazz phương xa phả vào cái tĩnh mịch, ngưng đọng của người Hà Nội. Nỗi buồn qua tay anh bỗng xốp nhẹ. Nó trong vắt, khẽ khàng rỏ xuống tâm trí, để người ta tự vin vào đó mà nhặt nhạnh lại niềm vui sống.
Màn nhung Nhà hát Lớn buông hờ một đêm tháng Tư năm 2023. Không gian âm nhạc "Phú Quang - Đỗ Bảo: Hà Nội mùa chuyển". Không người dẫn chương trình. Chỉ có những dải ánh sáng tím loang lổ trên sân khấu. Lớp màn quá khứ và hiện tại chập vào nhau. Bản mashup “Em ơi Hà Nội phố” quyện vào “Những mùa đông yêu dấu”. Âm nhạc trầm mặc của Phú Quang ngả đầu nương vào sự tự do của Đỗ Bảo.
Giai điệu buông lơi. Bốn giọng hát Hà Trần - Tấn Minh - Ngọc Anh - Thanh Lam cất lên. Bao lao xao phố thị dường như dừng lại sau cánh cửa nhà hát. Đêm ấy, Đỗ Bảo ngồi dưới ánh đèn, mượn nốt nhạc để chắp vá những khoảng bơ vơ giữa lòng phố xá.
***

Phù sa muôn năm cũ lẳng lặng lặn sâu, rịn vào thớ tâm hồn. Gã trai quê thôi ngơ ngác, ngầm cắm rễ giữa lòng phố. Thành phố trút bỏ nếp áo của một trạm dừng, thong thả cựa mình hóa cội quê. Hạt tình cứ thế nảy mầm từ những vết chân chim rạn nứt của phố, từ vệt khói lam chiều vương trên nốt nhạc, vần thơ.
Phố xá vẫn hối hả ngoài kia. Ngước mắt lên, dải trời xám bị che khuất bởi những vệt đường ray tàu điện và khối bê tông sắc lạnh lòa nhòa kính gương. Kẻ chợ đương cựa mình đắp nặn vóc hình xa lạ. Vậy mà, áp tai xuống mặt nhựa đường, vẫn nghe rành rọt nhịp thở trầm mặc của những nếp người năm cũ.
Đêm xà cừ ngậm sương trên phố Hoàng Diệu. Gió lách qua mép ngói âm dương. Tiếng bản lề cửa gỗ nhà ai cựa mình kẽo kẹt. Bờ vai khẽ rùng mình. Vạn vật nhòa đi, chỉ còn tiếng sông Hồng đang trở mình vỗ sóng ngoài bãi bồi. Lặng lẽ. Chảy mãi.../.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Lương Đình Khoa. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.