Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Nhà tập thể cửa ga

Phạm Huỳnh Công 21/08/2026 14:51

Đó là một ngôi biệt thự ba tầng, kiến trúc kiểu Neoclassical (Tân cổ điển Pháp), được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX tới đầu thế kỷ XX, tọa trên con phố mang tên Boulevard Gambetta (thời Pháp xâm lược). Bao quanh biệt thự là hệ thống tường rào kiên cố chắn khu dân nghèo, lưa thưa những mái nhà lúp xúp.

7-1628649427-tap-the-cu.jpg
Ảnh minh họa

Biệt thự có tám phòng chính. Mỗi phòng rộng gần trăm mét vuông, có lò sưởi than hút lên trời ống khói. Trần nhà có hoa văn trang trí kiểu họa tiết châu Âu. Dẫy hành lang các phòng khá rộng, ngăn cách bởi hàng tường gạch vây quanh, tạo ra khoảng không cách âm, cách nhiệt theo nguyên lý Thermos (phích giữ nhiệt), chỉ dành cho giới bóc lột. Người Pháp dùng nơi này cho hoạt động Ngoại giao, tiếp đón những khách VIP lên, xuống tầu hỏa qua ga Hàng Cỏ. Năm 1954, khi Thủ Đô giải phóng, ngôi biệt thự này được gắn biển số: 108, phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Mặt tiền biệt thự án ngữ mặt phố, nhìn trực diện hướng Nam.

Bên trái, xuôi theo phố Trần Hưng Đạo hướng đông, là sông Hồng ngàn đời cần mẫn chở nặng phù sa nuôi xanh đồng bằng bằng Bắc Bộ. Bên phải, cắt qua đường Nam Bộ (xưa) chừng vài mươi mét là cửa chính tâm nhà ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội) – Một trung tâm lưu chuyển của nền Kinh tế - Chính trị - Quân sự - Văn hóa, xã hội của đất nước. Phía sau dẫy tường biệt thự 108 Trần Hưng Đạo là phố Ngõ Cỏ của những người cần lao. Ngày xưa phố này là nơi trao đổi, mua bán cây cỏ, các loại thức ăn cho ngựa và cho bò kéo xe.

Ngay sau ngày giải phóng Thủ đô, Nhà nước đã giao ngôi biệt thự 108 Trần Hưng Đạo này cho Viện Công Tố Trung Ương, sau là Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý, sử dụng làm nhà tập thể cho cán bộ, công nhân, viên chức. Cư dân sống trong biệt thự 108 Trần Hưng Đạo thường gọi nôm na là: “Nhà tập thể cửa ga” để dễ phân biệt với những khu tập thể khác của cơ quan.

Mùa hè năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt, đêm đêm, từng đoàn cán bộ chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam đã tản quân ở cửa ga, quanh nhà tập thể 108 Trần Hưng Đạo để đợi lệnh vào ga, lên tầu vào chiến trường B, C, K… đánh giặc. Tôi may mắn được là một trong những người chiến sĩ có mặt trong những đoàn quân ấy.

Vào một đêm tháng sáu nóng oi, hành quân từ Hải Dương lên Hà Nội, đơn vị tôi được lệnh tản đội hình ra hè phố đợi lệnh. Đêm ấy, do đề phòng máy bay Mỹ oanh tạc, nên thành phố không đèn. Chúng tôi mặc quân phục “nguyên đai, nguyên kiện”, hạ ba lô, nửa ngồi, nữa nằm trên hè đường, chờ lệnh. Dưới ánh trăng ảo mờ đêm thành phố xa lạ, phải mất một lát, tôi mới định hình được vị trí đang ngả lưng của mình là đầu con phố cửa ga Hàng Cỏ, trước cổng một ngôi biệt thự uy nghi. Ngước nhìn vào, tôi gặp lừng lững hai cột trụ cổng gánh hai mái ngói xuôi nghiêng mái đình làng. Trên trụ cổng ghi dòng chữ to đùng: “108 trần Hưng Đạo”. Hai cánh cổng lớn của biệt thự mở toang như không khép lại bao giờ.

Nhìn qua khu sân rộng, phía trên tầng lầu biệt thự, tôi gặp một căn phòng ở tầng ba, cửa mở rộng về hướng Nam. Trong phòng thấp thoáng dáng người đi lại dưới ánh điện mờ ảo, ệch vàng. Nhịp sống bình yên đến lạ. Đồng đội tôi có vài người vào trong khu nhà xin nước. Một lát sau, các đồng chí ấy ra, khoe: “Ở đây có bể nước to đùng, mát lắm. Mấy bác trong khu đã múc nước trong bể giùm, động viên các cháu tranh thủ tắm đi cho mát để lấy sức hành quân. Người Hà Nội vô cùng tốt bụng các đồng chí ạ…!”

Tôi nằm ngửa mặt ngước lên bầu trời đêm chi chít sao giăng. Đâu đó trong vòm trời đêm loang loáng những ánh chớp nhằng nhịt của bom, đạn giặc Mỹ đang bắn phá. Cuộc sống của cư dân quanh khu ga Hàng Cỏ như không hề có bom rơi, đạn xối. Rồi có tiếng còi tầu hú lên như ai đó quát vang. Tầu vào ga, hay lăn bánh lao đi phương nào, tôi không rõ. Súng AK trước ngực, lựu đạn, khí tài bao quanh sườn căng đét, nhưng lòng tôi bỗng chùng xuống, khát khao: “Đời lính cầm súng ra trận, sống chết bất thường, nhưng ước gì có một ngày mình trở về, được sống bình yên như những người dân đang bình yên tại nhà 108 này. Thú thực, lúc đó, tôi cũng tự trả lời cho chính mình: chắc chẳng bao giờ được bước vào căn phòng bình yên cao cao kia. Ôi…! Ước mơ chính đáng vừa gần gũi, vừa xa, xa lắc… trong tâm khảm người cầm súng trên đường ra trận.

Nhưng, cuộc đời quả là một vòng tròn vô định. Sau ngày hết giặc, tôi đi học và được điều về làm việc tại Viện kiểm sát nhân dân Tối cao. Chiếc xe Com măng ca đít vuông chở một số cán bộ mới chúng tôi từ cơ quan 44, Lý Thường kiệt về nhận nơi ở tại nhà tập thể. Khi xe từ từ lăn bánh vào nơi ở có cánh cổng mở toang, tôi giật mình khi nhìn thấy con số 108, Trần Hưng Đạo trên cột trụ cổng. Và bất ngờ hơn nữa, tôi được phân công vào ở trong chính cái căn phòng tầng ba có cửa rộng nhìn ra mặt phố hướng nam, nơi ngày xưa tôi từng vu vơ mơ ước. Sau mười lăm năm, tôi còn gặp được mấy bác cán bộ xưa cùng trú ngụ tại đây. Trong phòng, có nhiều chiếc giường cá nhân bỏ trống. Bác cựu cán bộ, bảo: Giường của năm anh em Kiểm sát viên trẻ đã xung phong đợt Tổng động viên đánh giặc. Hòa bình, thống nhất rồi, mà không thấy ai trở lại… Tôi đứng trên ô cửa tầng ba, nhìn về phía nam, nhìn xuống đường phố Trần Hưng Đạo tấp nập người, xe, nghe tiếng còi tầu hú vang vang từ Ga Hà Nội, chẳng rõ vì sao mà nước mắt tôi cứ ào ra hai má. Có lẽ, cuộc đời đã cho tôi “Cầu được, ước thấy” trên sự hi sinh của không ít những con người...

Nhà tập thể cửa ga cũng được nhiều người gọi là: “Pháo đài trung tâm”. Không chỉ vì nó đứng ở trung tâm khu phố, nổi bật trên những dẫy nhà cấp bốn bao quanh, mà thực sự đã có thời đích thực là trung tâm hội tụ hoạt động của nhiều thế hệ yêu nước. Chuyện kể lại rằng những năm 1906 -1908, thời chống thực dân Pháp, vùng cửa ga Hàng Cỏ là một trong những địa điểm tụ họp của trong phong trào “Đông kinh nghĩa thục”, phong trào “Duy Tân” – “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” tại Hà Nội và ủng hộ phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở Trung kỳ. Tại đây, nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi phương án đấu tranh, truyền bá thông tin yêu nước của những người Chí sĩ. Phong trào yêu nước bị thực dân Pháp đàn áp tàn khốc. Nhiều sĩ phu uy vũ không thể khuất phục như Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Trần Quý Cáp… đều lần lượt bị sa vào tay địch. Để uy hiếp tinh thần và gieo rắc sự sợ hãi trong quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân đã tổ chức thi hành án đối với một số vị sĩ phu ngay tại Hỏa Lò, cũng như thiết lập pháp trường công khai trước cổng số 108 Trần Hưng Đạo. Nơi các vị sĩ phu trút hơi thở cuối cùng được chuyển về quy táng tập thể tại bãi đất trống gần khu vực nhà tù Hỏa Lò, chính là không gian phố 19/12 – nơi từng gắn liền với tên gọi "Chợ Âm Phủ" ngày nay.

Sự kiện “Hà thành đầu độc” do thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám tổ chức, chỉ huy cũng gắn liền với mảnh đất này qua nhiều câu chuyện truyền miệng trong nhân dân. Lợi dụng vị trí giao thương thuận tiện, khu vực cửa ga đông người qua lại cùng vật liệu xây dựng ngổn ngang, đêm 26/7/1908, lực lượng “ngoại ứng” của cụ Đề Thám đã xuống tàu, tập kết đội hình nhằm tiến vào áp đảo lực lượng đối phương sau khi kế hoạch đầu độc diễn ra. Tuy nhiên, do sự cố ngoài dự kiến, kế hoạch bị bại lộ khiến các chiến sĩ rơi vào tay địch và phải chịu nhiều tổn thất ngay tại chỗ.

Đến ngày 8/7/1908, số nghĩa binh còn lại cùng những nhân vật nòng cốt như Đội Nhân, Đội Bình, Bếp Hiên… phải nhận bản án nghiệt ngã nhất từ Tòa án quân sự thực dân, rồi được đưa về quy táng chung tại hố đất gần khu vực Hỏa Lò, chính là tuyến đường 19/12 – "Chợ Âm Phủ" ngày nay. Đều đặn vào dịp tháng Bảy hằng năm, nhiều cư dân tại khu tập thể cửa ga vẫn thành kính thắp hương, dâng lễ để tưởng nhớ, tri ân những người con ưu tú đã ngã xuống trong sự kiện “Hà thành đầu độc” cũng như trong các phong trào “Duy Tân”, “Đông Kinh Nghĩa Thục” hồi đầu thế kỷ XX.

Thời toàn quốc kháng chiến, cuối năm 1946, Nhà tập thể cửa ga đã có lần được chọn làm Trụ sở của Đội tự vệ thành Hoàng Diệu, mở đầu cuộc chiến đấu 60 ngày đêm “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” mà cụ Khuất Duy Tiến là một trong những người chỉ huy đội quân này. Thời chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, cửa sổ trên chóp Nhà tập thể cửa ga cũng đã được Đội tự vệ của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đặt bệ súng trung liên RPĐ, chĩa lên bảo vệ bầu trời Hà Nội. Thời bảo vệ biên giới phía Bắc của thế kỷ trước, tại khu cửa ga Hàng Cỏ, có một nhóm người nước ngoài gây rối, âm mưu bạo loạn, Nhà tập thể cửa ga đã nhanh chóng được chọn làm “Trung tâm chỉ huy chống bạo loạn”. Súng máy đã đặt trên cửa sổ, đội hình các mũi tiến công luôn sẵn sàng tỏa ra các hướng…

Nằm ở một vị trí như là sứ mệnh, Nhà tập thể cửa ga trở thành điểm dừng chân, chờ đợi của khách đi tầu ngược, tầu xuôi đến mọi miền đất nước. Nơi đây như một “Trạm giao liên Trường Sơn”. Bộ đội, công nhân, sinh viên…thường hẹn hò, đón đợi ở nơi đây. Giờ thay ca, người lao động tại khu vực ga Hà Nội vào nghỉ ngơi, tắm dặt, ăn cơm cạp lồng, thậm chí ngả lưng chợp mắt. Những người bán hàng rong, bán nước sau những đêm trắng cần cù lao động mưu sinh, buổi sáng họ ghé vào gửi đồ đạc, phương tiện kinh doanh. Bà con, cô bác từ ngoại thành vào thành phố mang tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, chiều tối ghé vô gửi những sản phẩm chưa bán hết. Cư dân trong nhà, chẳng ai nỡ từ chối họ. Cũng có khi một vài người làm ăn bất chính ghé vào tắm giặt nhờ. Họ xin nước, xin xà phòng… Họ không bao giờ bị cư dân ở đây miệt thị, hay phân biệt đối xử.

Hơn thế, họ còn nhận được những lời nhắc nhở chân tình của các mẹ, các bác cao tuổi. Đôi khi, có người không nhà cửa dạt đến tá túc trước mái hiên để tránh mưa, tránh nắng, tránh những hệ lụy xã hội. Có người từng òa khóc nghẹn ngào khi được một bác cán bộ mang cho một bát cháo nóng khi họ ốm, ngồi rũ dưới chân cầu thang. Do vậy, mà Nhà tập thể cửa ga không bao giờ đóng cổng. Nhưng tài sản, phương tiện cá nhân ở đây không bao giờ mất mát, hay xảy ra hiện tượng mất trật tự, trị an. Đầu năm 1990, có một người phụ nữ gầy gò, xanh xao, bụng to vượt mặt từ ga dạt vào đây tá túc. Các mẹ, các chị trong khu tập thể đến hỏi han, tìm hiểu gia cảnh. Biết chị ta đã có sáu con, có mâu thuẫn gia đình, nên đã lên tầu trốn ra Hà Nội. Đứa con thứ bẩy sắp sinh mà chị ấy không tiền, không gạo, không áo quần…. Cả khu tập thể họp lại. Không có ý kiến nào đề nghị trục xuất, hay báo cơ quan chức năng đến giải quyết. Tất cả đều một lòng giúp đỡ người bĩ cực. Một cán bộ cao cấp của Viện Phúc Thẩm đi công tác biệt phái phía Nam dài ngày, anh đã trao căn phòng của mình cho người đàn bà kia tá túc. Rồi chị em phụ nữ phân công nhau sẵn sàng đón đưa đi bênh viện, đóng góp chi phí và chăm sóc chị ấy cho đến khi mẹ tròn con vuông. Biết chị ta có nghề làm bánh ngọt, tổ nữ công giúp chị hồi phục nghề. Khu tập thể phân công nhau đi mua dụng cụ, nguyên liệu để chị hoàn thành sản phẩm. Rồi họ bán hàng, đi giao hàng giúp.

Từ đó sản phẩm bánh Bảo Ngọc trở thành thương hiệu có tiếng. Người chồng chị từ Miền Nam tìm được vợ, đã ở lại giúp vợ làm bánh. Chỉ hơn năm sau, tại Hà Nội đã xuất hiện tiệm bánh ngọt Bảo Ngọc đầu tiên trên phố Cửa Nam. Rồi nhiều tiệm bánh Bảo Ngọc khác mọc lên thu hút người tiêu dùng Thủ đô. Bánh Bảo Ngọc xuất hiện cả trên thị trường Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Cũng từ đây, nghề làm bánh ngọt đủ loại độc đáo được người đàn bà sa cơ lỡ vận năm nào đứng ra hướng dẫn, giúp các chị, các mẹ là vợ con cán bộ trong Nhà tập thể cửa ga có thêm việc làm, tăng thêm thu nhập. Ngày nay, trong các tiệc cưới, tiệc sinh nhật, trên thương trường Hà Thành vẫn đang lưu hành những loại bánh ngọt Bảo Ngọc có xuất xứ từ Nhà tập thể cửa ga năm ấy.

Nhà tập thể cửa ga là trung tâm tụ hội những gia đình cán bộ làm công tác luật pháp, sống biết lý, biết tình, nên họ đoàn kết, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau như người trong một nhà. Suốt những năm sáu mươi, bảy mươi, tám mươi của thế kỷ trước, năm nào Nhà tập thể cửa ga cũng được thành phố tặng Bằng khen, giấy khen, danh hiệu “Tập thể gương mẫu”, “Tập thể tiên tiến”, “Tập thể văn hóa”. Cuối năm, Ban tự quản tổ chức họp bình bầu xuất sắc, phân chia nhiều phần thưởng của Thành phố. Xoong, chảo, bát, đĩa, cạp lồng…cứ loảng xoảng, leng keng vui như có nhạc nền trong đêm mừng công.

Năm tháng trôi qua, bao lớp cán bộ Viện kiểm sát với chuyên môn về pháp luật đã “luyện rèn” tại đây theo “công thức nước xô, cơm chín, bếp dầu”, nên họ càng thấu hiểu sâu sắc những vấn đề của đời sống xã hội, của đất nước. Họ giúp đỡ lẫn nhau và trưởng thành mạnh mẽ trong tình người Hà Nội. Nhiều người đã trưởng thành một thế hệ cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Họ giữ các chức Bộ trưởng, Viện trưởng Viện KSNDTC, Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Thứ trưởng, Vụ trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm sát viên cao cấp, thẩm phán, Chánh án tòa án cấp tỉnh, thành, Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước... Con em của nhiều người trở thành giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo ưu tú… Các thế hệ kế tiếp, lớn lên cũng trở thành học sinh giỏi, học sinh xuất sắc, tài năng trẻ… Ai đó đã nhiều lần thốt lên: “Đây là miền đất lành, đất thiêng xứ Hà thành, nên đã sinh ra những công dân ưu tú của Thủ đô”.

Sau gần trăm năm gánh chịu phong hóa của thiên nhiên, cùng với những tác động vật lý từ bom, đạn giặc Mỹ dội sập cửa ga, Nhà tập thể cửa ga – số 108 Trần Hưng Đạo đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Cuối năm 1993, tất cả chúng tôi phải chia tay ngôi nhà đầy kỷ niệm, có máu, nước mắt và tâm hồn. Các thể hệ cư dân cũng chuyển đi làm việc, sinh sống trên mọi miền tổ quốc và quốc tế. Nhưng, mỗi khi nhớ về chốn cũ, người xưa, trong tâm khảm ai ai cũng cồn lên nỗi lòng trắc ẩn. Hàng năm, mỗi độ xuân về, cư dân Nhà tập thể cửa ga đã tụ hội, ôn lại chuyện xưa, sẻ chia đầm ấm nghĩa tình. Ba, bốn thế hệ gặp nhau, truyện trò sôi lên như pháo hoa ngày tết. Những đám cưới người thân, những niềm vui hỷ xả, những nỗi buồn khi cùng thắp nén nhang tiễn người quá cố… đều kéo họ xích lại gần nhau hơn. Có người luôn thủy chung với ngành pháp luật. Có người lập nghiệp ở nước ngoài thành công. Có người nghỉ chế độ, về vùng quê nuôi lợn, trồng cây ăn trái. Gặp nhau, họ cùng sẻ chia thành tựu, hẹn hò mừng vui như những người chung một gia đình.

Có ai đó đi qua đầu phố Trần Hưng Đạo đã dừng lại, ngẩn ngơ trước cổng một ngôi nhà mang số 108. Họ ngước lên nhìn, rồi quay lui, quay tới hỏi thăm, tìm những người xưa đã sinh sống trong khu. Người xưa, giờ này, họ đã đi đâu, về đâu...? Một tòa tháp mới, kiến trúc hiện đại, cao cả chục tầng vút lên như một pháo đài trung tâm giữa những tòa nhà hiện đại đan nhau vây quanh. Đó là Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam, một trung tâm kinh tế của đất nước đã thay thế ngôi Nhà tập thể cửa ga – ngôi biệt thự cổ năm nào.

Có lần, tôi ghé về thăm Nhà tập thể cửa ga xưa. Đang ngơ ngác trước cổng thì gặp một cháu gái dừng xe trước mặt: “Cháu chào ông ạ!”. Thấy tôi ngỡ ngàng, cháu xán đến, thưa: “Ông không nhận ra cháu à? Cháu là cháu nội cụ Khuất Duy Tiến - đội tự vệ thành. Cháu là cư dân từ thời còn nhỏ trong Nhà tập thể cửa ga này với ông mà. Cháu hiện làm ở Ngân hàng này, ông ạ!...”

Cổng Ngân hàng Công Thương Việt Nam số 108 Trần Hưng Đạo vẫn mở toang như tuân thủ một lời nguyền truyền đời: “Cổng ngôi nhà trên mảnh đất địa linh này không bao giờ đóng cửa....”. Tiếng còi xe lửa từ ga Hà Nội bỗng réo vang rộn rã. Tôi xôn xao tâm trí, nhìn ra. Không rõ tầu đi ngược, hay tầu về xuôi ấy nhỉ…?/.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phạm Huỳnh Công. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Phạm Huỳnh Công