Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Trầm tích ba nghìn năm dưới chân đại lộ

Phan Anh 11:48 21/08/2026

Nằm ở ngoại thành phía Tây của Hà Nội, làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá xã Hoài Đức không chỉ được biết đến là quê hương của cụ Khánh Ký, một nhà yêu nước thầm lặng, một trong những ông tổ nhiếp ảnh của nước Nam ta mà còn nổi tiếng với di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, nơi lưu giữ những dấu tích của tiền nhân cách đây khoảng trên dưới 3000 năm.

di-chi-khao-co-hoc-vuon-chuoi-anh-nguyen-van-thang-.jpg
Di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (ảnh Nguyễn Văn Thắng)

Di chỉ này được phát hiện từ năm 1969 nhưng do nhiều điều kiện khó khăn nên những năm gần đây mới được khai quật và dần hé lộ nhiều điều thú vị về bốn tầng văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn cùng hiện diện trên mảnh đất này. Chỉ vậy thôi, di chỉ Vườn Chuối đã và đang được xem như một “kho báu”, mang trong mình những giá trị vô giá. Khu đất ấy có thể ví là một bảo tàng độc nhất vô nhị trong lòng đất, phản ánh rõ nét hành trình phát triển thời kỳ tiền sử và sơ sử của dân tộc ta trên khu vực đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng.

Bởi thế, không có gì lạ khi nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Nguyễn Văn Huy, một chuyên gia và cũng là người con của làng Lai Xá, dù đã từng đi nhiều nơi trên thế giới nhưng khi đứng trước cánh đồng di sản của quê hương đã không khỏi xúc động thốt lên rằng: “Hiếm có một thủ đô nào trên thế giới còn lưu giữ được những dấu tích của các nền văn hoá cách ngày nay từ 2500-3000 năm như vậy”. Niềm xúc động xen lẫn tự hào ấy đã thôi thúc tôi không ít lần tìm đến những hố khai quật còn thơm mùi đất ẩm để được tận mắt chạm vào kho báu của những “bí mật trong lòng đất” đang dần được các nhà khoa học đưa ra ánh sáng với mong muốn hiểu thêm phần nào về đời sống, xã hội của tổ tiên xa xưa trên chính mảnh đất quê mình.

Đứng trên di chỉ Vườn Chuối, bên cạnh đường Vành đai 3.5 đang dần hoàn thiện cùng với đại công trường Khu đô thị Kim Chung - Di Trạch (nay đổi tên thành Hinode Royal Park Hoài Đức) đang hối hả thi công, tôi thấy cửa ngõ phía Tây thủ đô giờ đã thay đổi chóng mặt. Nhớ lại, cách đây hơn ba mươi năm, khi ấy còn là học sinh, tôi thường đi qua nơi này. Ngày đó, phía sau Nghĩa trang liệt sĩ Kim Chung - Di Trạch có rất nhiều ngôi mộ và những vườn chuối rậm rạp mọc lên ở giữa đồng lúa xanh. Khi ấy, tôi đâu có biết chỗ này là một “bảo tàng” cất giữ những “bí mật” của người xưa. Và có lẽ do trên cánh đồng Lai Xá ngày ấy có nhiều bụi chuối như thế nên khi phát hiện ra các di vật của tổ tiên nằm trong lòng đất ở địa điểm này, người ta đã đặt tên cho khu di tích là Di chỉ khảo cổ Vườn Chuối.

Cách đây khoảng gần chục năm, hồi trước đại dịch Covid-19, khi người ta tiến hành thi công con đường Vành đai 3.5, số phận của di sản này từng mong manh dưới những bàn tay sắt khổng lồ của những chiếc máy xúc, máy ủi. Nhưng cũng may thay, các nhà khoa học, đặc biệt là nhân dân làng Lai và khắp nơi đều đồng tình lên tiếng. Cho nên dù có bị tổn thương nhưng nhờ sự vào cuộc kịp thời ấy mà cái “kho báu” vô giá lưu dấu tiền nhân mới giữ được hình hài để cho mãi mãi về sau con cháu còn biết được cuộc sống của tổ tiên xa xưa từ hàng ngàn năm trước.

khai-quat-o-di-chi-khao-co-vuon-chuoi-anh-nguyen-van-thang-.jpg
Khai quật ở di chỉ khảo cổ Vườn Chuối (ảnh Nguyễn Văn Thắng)

Từ khi phát hiện ra Di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, tính đến nay, các nhà khoa học đã có hơn mười một lần khai quật. Trước đó, khi chưa tiến hành làm con đường Vành đai 3.5, khu di chỉ này từng là nạn nhân của các vụ đào bới ăn trộm cổ vật, đến mức làng Lai phải dựng lều, cắt cử người đêm ngày trông giữ. Rồi đến khi con đường mở ra, quy hoạch chồng lấn lên “kho báu”, dân làng phải kêu cứu, truyền thông rầm rộ lên tiếng, chính quyền khẩn trương vào cuộc, với các đoàn khảo cổ từ thành phố đến trung ương liên tục về khai quật, lật từng lớp đất bồi. Để rồi, sau những nhát cuốc cẩn trọng, bức tranh đời sống, sinh hoạt của tổ tiên xa xưa với các giai đoạn văn hoá khác nhau, trải từ thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun cho đến Đông Sơn lần lượt nối tiếp nhau hiện ra một cách vô cùng sống động.

Bởi thế, mỗi lần đến Khu di chỉ Vườn Chuối, ngắm nhìn những hiện vật và các dấu tích nằm dưới mặt đất, tôi như không chỉ nhìn thấy một tiến trình lịch sử đi qua hàng ngàn năm mà còn cảm nhận trọn vẹn hơi thở ấm nóng của một không gian sinh tồn trên mọi phương diện của đời sống xã hội xa xưa. Đó là những phong tục tập quán, các ngành nghề lao động cùng lối sống, nếp nghĩ của những cư dân Việt cổ thời Hùng Vương sinh sống trên châu thổ Bắc Bộ. Đứng trước những dấu tích ngàn năm ấy, tôi bỗng nhận ra, thời Hùng Vương tưởng như xa lắm nhưng không phải vậy. Tổ tiên xưa vẫn ở ngay bên mình, di chỉ Vườn Chuối trước mắt tôi đây chẳng phải là một minh chứng sống động và đầy thuyết phục đó sao?

Tôi từng đến bảo tàng Hà Nội, nơi trưng bày các hình ảnh, hiện vật của di chỉ Vườn Chuối để chiêm ngưỡng toàn cảnh khu di chỉ với hàng trăm bức hình và hàng ngàn hiện vật của kho báu khổng lồ, khoảng 15.000 hiện vật, thuộc nhiều nhóm chất liệu khác nhau, được khai quật trong năm 2024 và 2025. Ngắm nhìn những hiện vật ấy tôi thấy thực sự bất ngờ và choáng ngợp.

Phải nói rằng, đây là những tấm ảnh và các hiện vật biết “nói”. Chúng không hề vô tri mà hiện lên rất sống động trước mắt tôi. Chúng như đang kể cho tôi nghe câu chuyện của một tiến trình lịch sử diễn ra trên cánh đồng quê hương, trong khoảng 2.500 năm đến 3.000 năm trước. Tựa như những “chứng nhân lịch sử”, mỗi hiện vật là một câu chuyện về một lát cắt cuộc sống thuở xa xưa ở một làng Việt cổ trên đất Hà Nội. Bao nhiêu hiện vật là bấy nhiêu câu chuyện trong suốt hành trình phát triển của vùng đất này từ tiền sử đến thời sơ sử. Nhìn hình ảnh dấu tích nền nhà, hố chân cột, cột gỗ, hệ thống hào bao quanh, từ nơi gò cao xuống đến vùng trũng, tôi như thấy hiện lên một không gian cư trú đang được mở rộng ra theo những nếp nhà sàn tựa như ngôi nhà rông của đồng bào Trường Sơn - Tây Nguyên.

Những dấu tích của khu bếp đun, lò nấu đồng, mũi rìu, lưỡi hái, vòng ngọc, chuỗi đá, vũ khí và công cụ lao động sản xuất bằng đá, bằng gốm, bằng tre, bằng đồng, bằng sắt tái hiện cho tôi thấy cuộc sống, sinh hoạt, lao động của tổ tiên ở trên đất này. Mỗi vỏ trấu in trên mảnh gốm gợi cho tôi hình ảnh của những ruộng lúa nước từ hàng ngàn năm trước. Mảnh xương trâu, xương bò, xương lợn nói với tôi về hành trình thuần thú hoang và sự phát triển của nghề chăn nuôi trên nền tảng nông nghiệp lúa nước của cư dân Vườn Chuối. Mỗi viên chì lưới làm bằng đất nung hay lưỡi câu đồng cùng mảnh tre, mảnh gỗ kể cho tôi câu chuyện về nghề chài lưới và khai thác lâm sản.

Đặc biệt là khu mộ táng được xác định có từ giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm đến giai đoạn muộn của văn hoá Đông Sơn, qua những chiếc răng mà tôi biết được sự thay đổi của tục nhổ răng cửa ở người trưởng thành. Không những thế, từ những di cốt ấy, người ta nói với tôi, các nhà khoa học có thể dựng lên một bức tranh về nhân chủng học, di truyền, sự vận động, các bệnh lý và chế độ dinh dưỡng của người Việt trong thời đại Kim khí ở Đồng bằng Bắc Bộ. Chỉ vậy thôi, tôi nghĩ, cái kho báu quê mình có thể là một minh chứng sống động về cuộc sống của con người đã có từ rất sớm trên đất Hà Nội bây giờ. Điều ấy cũng là chỉ dấu để con cháu hôm nay và mai sau tự tin và tự hào khẳng định ta là người bản địa. Và những di chỉ ấy là bằng chứng thuyết phục khẳng định: Thời kỳ Hùng Vương không phải là huyền thoại, không còn là giả thuyết mà là một sự thực rực rỡ!

Ngắm nhìn các hiện vật của di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, tôi thực sự ngạc nhiên và thán phục về sự điêu luyện và óc thẩm mỹ của người xưa. Thời ấy, hẳn các công cụ chế tạo còn thô sơ nhưng nhờ đôi tay khéo léo và óc sáng tạo tài hoa mà người Việt xưa đã làm ra nhiều hiện vật đạt đến trình độ thẩm mỹ rất cao. Bình gốm hình vịt được nặn và trang trí rất tinh xảo. Những vật đeo mô phỏng hình chim phượng cùng những chiếc vòng, khuyên tai, hạt chuỗi dùng làm đồ trang sức hay nha chương, vật đeo dạng mũi nhọn tượng trưng cho quyền lực của các thủ lĩnh được làm rất công phu.

Đặc biệt trong những hiện vật ấy có chiếc rìu - bích bằng đá màu xanh, được tuỳ táng trong ngôi mộ có niên đại Tiền Đông Sơn, có thể xem là tuyệt tác của di chỉ Vườn Chuối. Nghe kể, bảo vật quý hiếm này được làm từ đá Nephrite, màu xanh rêu, có 6 cạnh đều và đối xứng với nhau tạo thành hình lục giác. Ngoài thể hiện uy quyền, chiếc rìu - bích này còn là một ngọc khí nghi lễ, được sử dụng cúng tế trời đất, tang lễ hoặc hiến tặng. Nó là biểu tượng của thiên mệnh, quyền lực và đức hạnh. Với sự xuất hiện của chiếc rìu - bích trong mộ táng người ta biết thủ lĩnh ở Vườn Chuối ngày đó đã biết đến vùng Hoa Hạ.

Ngoài những di vật thể hiện uy quyền của các thủ lĩnh, Vườn Chuối còn có hàng ngàn mảnh sành, mảnh gốm, rìu đá, rìu đồng, mũi tên, mũi mác. Đứng giữa những di vật ấy tôi bị cuốn vào những nét hoa văn được chế tác bởi một trình độ mài, nung và tư duy tạo hình ở mức đỉnh cao. Mỗi di vật là một tiếng nói sống động, phản ánh quá trình chuyển biến tư duy con người đương thời. Có lẽ, ở thời điểm này, người Việt cổ nơi đây đã biết tư duy về cái đẹp. Con người đã vượt qua thời kỳ sản xuất đồ dùng sinh hoạt thuần tuý, bước qua ngưỡng ăn no mặc ấm để tiến tới biết làm đẹp.

hinh-anh-khai-quat-o-di-chi-vuon-chuoi-anh-nguyen-van-thang-.jpg
Hình ảnh khai quật ở di chỉ Vườn Chuối (ảnh Nguyễn Văn Thắng)

Bởi thế sản phẩm họ làm ra vô cùng sống động. Những khuyên tai ống, những chiếc khuyên tai có khấc, khuyên tai hình vành khăn, khuyên tai hình gối quạ, vòng tay hai mảnh, chuỗi hạt bằng đá… đều được mài nhẵn bóng, cân đối, thể hiện kỹ thuật khoan lỗ xuyên tâm và kỹ nghệ đánh bóng đạt mức điêu luyện mà ngay cả máy móc hiện đại cũng phải trầm trồ. Hơn thế, qua những di vật thể hiện quyền lực, tôi cũng đã nhận ra sự phân tầng trong xã hội từ buổi bình minh. Hẳn là, ở làng Vườn Chuối ngày ấy đã có sự phân hóa giàu nghèo cho nên mới có những nha chương vừa tượng trưng cho quyền lực của thủ lĩnh tối cao, vừa phản ánh mối quan hệ giao lưu giữa các thủ lĩnh của các bộ lạc có qua lại với nhau. Với những gì tôi đã nhận ra, di sản Vườn Chuối đúng là những đồ vật biết “nói”. Từ những tiếng nói ấy nhìn sang các làng Việt cổ khác, tôi cũng nhận ra vùng trầm tích quê mình quả là một “độc bản” trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam.

Có lẽ, tính đến hiện tại, khu vườn cổ kính này có thể là đại diện tiêu biểu cho một làng Việt cổ mang dấu ấn đậm nét của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Trong cảm quan nhận thức, tôi đồ rằng, những cư dân mảnh đất này có thể là những người Việt đầu tiên tìm đến khai phá và làm chủ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách đây khoảng 3.000 năm. Và không ai khác họ chính là những chủ nhân đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho sự hình thành Nhà nước sơ khai của người Việt cổ.

Kể từ ngày phát hiện, di chỉ khảo cổ Vườn Chuối tính đến nay đã có lịch sử gần sáu mươi năm. Nếu gặp nhiều thuận lợi, trong quãng thời gian qua, di sản này có thể đã được khai quật toàn diện và trở thành một điểm đến văn hoá thú vị cho học sinh, sinh viên và tất cả những ai muốn tìm hiểu về xã hội người Việt cổ trong buổi bình minh của dân tộc. Có thể nói, sự xuất hiện của báu vật độc nhất vô nhị này là một may mắn và tự hào lớn của Thủ đô.

Mang trong mình một khối lượng di vật đồ sộ, đa dạng về loại hình và chất liệu, di sản Vườn Chuối đã làm cho Hà Nội không chỉ dừng lại ở dòng chảy văn hiến nghìn năm mà có bề dày ít nhất cũng ba nghìn năm. Qua bốn tầng văn hoá nối tiếp nhau: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn và hàng nghìn hiện vật biết nói, trong đó có không ít hiện vật xứng tầm bảo vật quốc gia, di chỉ khảo cổ Vườn Chuối đã giúp cho con người hôm nay và mai sau có thể hình dung ra được phần nào bức tranh về cuộc sống của tổ tiên người Việt trong buổi hồng hoang.

hien-vat-khai-quat-duoc-o-di-chi-vuon-chuoi-anh-nguyen-van-thang-.jpg
Hiện vật khai quật được ở di chỉ Vườn Chuối (ảnh Nguyễn Văn Thắng)

Song hành cùng lịch sử, di sản thiêng liêng ấy cũng phải trải qua biết bao thăng trầm. Thật kỳ diệu, trong những năm giặc Mỹ bắn phá dữ dội ở xã Kim Chung, khu đất Vườn Chuối may mắn được vẹn toàn. Rồi giữa cơn lốc đô thị hoá, khu di sản ấy lại một lần nữa được bảo vệ như có sự che chở, run rủi của hồn thiêng tổ tiên. Giờ đây, Khu di chỉ khảo cổ Vườn Chuối đã được xếp hạng Di tích cấp Thành phố, đang được đề nghị xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Trong tương lai, tôi hy vọng khu Vườn Chuối sẽ trở thành một Công viên di sản khảo cổ mới xứng tầm. Ngẫm lại, việc lưu giữ, bảo tồn và tôn vinh Di sản Vườn Chuối dẫu có chút muộn màng nhưng vẫn là một niềm hạnh phúc lớn. Bởi chúng ta giữ gìn đâu phải chỉ để cho hôm nay, mà là giữ lại cho muôn đời sau. Đâu phải là giữ một tài sản vô giá cho Hà Nội mà là giữ lại một “kho báu” cho cả nước, cho những ai muốn biết về cội nguồn dân tộc.

Đứng trên đại công trường, tôi mơ tưởng, một bên là những khu chung cư cao tầng hiện đại và một bên là khu biệt thự, liền kề sang trọng của Hinode Royal Park Hoài Đức; bên đường Vành đai 3.5; ở giữa, một ngày nào đó công viên di sản khảo cổ Vườn Chuối sẽ hiện lên trang nghiêm, bề thế. Khi ấy, Hà Nội sẽ có một di chỉ tiền sử, sơ sử mà không phải thủ đô nước nào cũng có. Công viên ấy hẳn sẽ là niềm yêu thích của biết bao người. Không gian di sản này không làm cản bước quá trình phát triển đô thị.

Ngược lại, với sự xuất hiện của nó, bài toán giữa bảo tồn và phát triển của Thủ đô như đã tìm được một lời giải kỳ diệu. Sự cổ kính của quá khứ sẽ nâng tầm cho nét sang trọng của tương lai, biến toàn bộ khu vực cửa ngõ Thủ đô thành một tâm điểm văn hóa - du lịch có một không hai. Khi đó, đến nơi đây, du khách vừa được chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của dải đất phía Tây, vừa có thể chạm vào dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Chắc chắn, điểm đến ước mơ này sẽ níu giữ những bước chân bạn bè khắp muôn nơi - những ai muốn chiêm ngưỡng một Hà Nội lập thân, kiến quốc từ thuở hồng hoang./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Phan Anh