Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Nơi Hà Nội chạm vào tôi

Nguyễn Đình Ánh 10:31 13/08/2026

Mỗi lần trở lại Hà Nội, đôi chân tôi dường như lại có một thói quen rất lạ: bỏ mặc những con phố đông vui, những điểm hẹn quen thuộc để lặng lẽ dừng trước cánh cổng Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm. Chiều mùa hạ, năm học đã khép từ lâu, cánh cổng trường khép im lìm dưới những hàng xà cừ già, khoảng sân phía trong vắng đến mức chỉ còn tiếng ve ngân lên trong nắng. Thế nhưng, lạ thay, chính nơi tưởng như lặng im ấy lại luôn là nơi nhiều âm thanh nhất trong ký ức tôi. Chỉ cần đứng lại một chút, tôi như nghe đâu đây tiếng trống tan học, tiếng cười trong veo của những cô cậu học trò và nhìn thấy những tà áo trắng năm nào đang lẫn vào nắng cuối ngày trên phố Hai Bà Trưng.

anh-tac-gia-chup-tai-cong-truong-thpt-tran-phu-hoan-kien.jpg
Ảnh tác giả chụp tại cổng trường THPT Trần Phú - Hoàn Kiến

Không ai biết người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đứng bên kia đường đang chờ đợi điều gì. Chỉ mình tôi hiểu, hơn ba mươi năm trước, cũng tại nơi này, một chàng lính mười chín tuổi từ miền quê xứ Nghệ lần đầu gặp Hà Nội. Và Hà Nội, bằng một buổi chiều rất đỗi bình thường, đã lặng lẽ giữ lại một phần tuổi trẻ của cậu ấy...

Chàng lính mười chín tuổi

Năm ấy, tôi vừa tròn mười chín tuổi. Mùa hè vừa khép lại cũng là lúc tôi nhận giấy gọi nhập ngũ. Chỉ ít ngày sau lễ tốt nghiệp trung học phổ thông, tôi rời ngôi làng nhỏ bên dòng sông Cấm, mang theo chiếc ba lô con con, vài bộ quần áo, mấy tấm ảnh gia đình và những ước mơ còn chưa kịp gọi thành tên. Mẹ tiễn tôi ra đầu làng, còn cha chỉ lặng lẽ dặn một câu rất ngắn rằng đã là người lính thì phải sống cho xứng đáng với màu áo mình mặc. Tôi gật đầu, nhưng khi chiếc xe chở tân binh lăn bánh, ngoái nhìn bóng mẹ mỗi lúc một nhỏ dần, tôi mới hiểu thế nào là cảm giác của một người lần đầu tiên bước ra khỏi vòng tay quê hương.

Ba tháng huấn luyện ở Ba Vành trôi qua trong tiếng còi báo thức mỗi sớm mai, trong những buổi hành quân dưới nắng bỏng, trong mùi đất thao trường quyện với mồ hôi của tuổi trẻ. Cuộc sống quân ngũ dạy chúng tôi cách sống có kỷ luật, biết đặt cái chung lên trước cái riêng và biết trưởng thành từ những điều tưởng như rất giản dị. Thế nhưng, sau tất cả những bài học ấy, tôi vẫn chỉ là một chàng trai vừa rời ghế nhà trường không bao lâu; đêm xuống, giữa doanh trại yên tĩnh, vẫn có lúc nhớ da diết tiếng võng mẹ đưa, nhớ con đường làng mùa lúa chín và nhớ cả sân trường cũ với những tán phượng còn đỏ rực trong ký ức.

Hết thời gian huấn luyện, tôi được điều động về một đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô. Tin ấy khiến tôi vừa háo hức vừa bồi hồi, bởi Hà Nội khi ấy đối với tôi không chỉ là tên một thành phố, mà còn là nơi đã hiện lên qua những trang sách, những bài thơ, những bài hát và cả những câu chuyện của thầy cô trên bục giảng. Trong trí tưởng tượng của một cậu học trò quê, Hà Nội là Hồ Gươm xanh biếc dưới bóng Tháp Rùa, là ba mươi sáu phố phường, là những hàng cây cổ thụ rợp bóng và những mùa thu đẹp đến mức đi vào thi ca. Tôi không biết thực tế có giống như những điều mình từng hình dung hay không, nhưng ngay từ lúc ấy, trong lòng đã dấy lên một niềm háo hức khó tả, giống như đứa trẻ sắp được gặp một người bạn mà mình đã quen từ rất lâu qua những câu chuyện kể.

Rồi một buổi sớm, chiếc xe quân đội đưa chúng tôi vượt qua cầu, tiến dần vào trung tâm thành phố. Qua ô cửa kính, Hà Nội khi ấy hiện ra không hề ồn ào như tôi từng nghĩ. Những con phố nối tiếp nhau trong màu xanh của những hàng cây già, những mái ngói cũ nép mình sau những dãy biệt thự Pháp cổ, những gánh hàng rong thong thả đi dưới vòm lá và những tốp học sinh đạp xe đến trường trong tà áo trắng. Thành phố mang một vẻ đẹp nền nã, trầm tĩnh và lịch thiệp, khiến một chàng trai tỉnh lẻ như tôi vừa thấy gần gũi, vừa thấy mình nhỏ bé trước chiều sâu văn hóa mà nơi đây đã tích tụ qua bao thế hệ.

Có lẽ chính từ những ngày đầu ấy, trước cả khi tôi kịp có một kỷ niệm riêng với Hà Nội, thành phố này đã lặng lẽ bước vào lòng tôi bằng những điều rất bình dị. Không phải bằng những công trình nổi tiếng hay những danh thắng mà ai cũng biết, mà bằng nhịp sống khoan thai của phố phường, bằng sắc xanh của những hàng cây, bằng tiếng chuông nhà thờ ngân lên giữa buổi chiều và bằng ánh mắt hiền hòa của những người Hà Nội tôi tình cờ gặp trên đường.

Tôi không ngờ rằng, chỉ ít lâu sau, trong một buổi giao lưu với học sinh Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm, Hà Nội sẽ dành cho chàng lính mười chín tuổi ấy một kỷ niệm rất nhỏ, nhưng đủ để nhiều thập niên sau, mỗi lần trở lại Thủ đô, tôi vẫn thấy mình như đang đi tìm một phần tuổi trẻ đã lặng lẽ ở lại.

Một buổi chiều ở Trần Phú – Hoàn Kiếm

Buổi giao lưu diễn ra vào một buổi chiều Hà Nội dịu nắng. Chiếc xe chở đơn vị chúng tôi dừng trước cổng Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm khi sân trường vẫn còn rộn rã tiếng nói cười. Dưới những tán xà cừ già, từng tốp học sinh trong màu áo trắng ríu rít đi qua nhau, mang theo cái hồn nhiên rất riêng của tuổi mười bảy. Tôi bỗng thấy lòng mình xao động lạ. Mới vài tháng trước thôi, tôi cũng còn là một cậu học trò như các em, cũng từng đứng dưới sân trường quê nghe tiếng trống tan học, cũng từng đạp xe về trên con đường đầy bụi đỏ. Chỉ khác là giờ đây, tôi đã khoác trên mình màu áo lính.

Tôi nhớ hội trường hôm ấy không lớn. Một bên là những người lính trẻ. Một bên là những gương mặt học sinh còn nguyên vẻ hồn nhiên. Tiếng đàn ghi-ta cất lên từ tiết mục mở màn làm cả khán phòng dịu lại. Những bài hát về Hà Nội, về Tổ quốc, về tuổi trẻ nối tiếp nhau vang lên trong tiếng vỗ tay không ngớt. Thầy cô nói với học sinh về trách nhiệm của người công dân. Các anh sĩ quan kể những câu chuyện bình dị về đời lính. Còn tôi, thú thật, chẳng nhớ hết mình đã nghe những gì. Bởi ngay từ lúc ngồi xuống, tôi mới nhận ra người bên cạnh là một nữ sinh lớp mười một. Em quay sang khẽ gật đầu thay cho lời chào. Nụ cười rất nhẹ. Và khi em cười, nơi khóe môi thấp thoáng một chiếc răng duyên. Không hiểu sao, giữa bao gương mặt hôm ấy, chi tiết nhỏ bé ấy lại ở lại trong tôi lâu đến vậy.

Chúng tôi cùng hướng mắt lên sân khấu. Thỉnh thoảng, khi một tiết mục hay kết thúc, cả hội trường cùng vỗ tay. Tôi cũng vỗ tay. Em cũng vỗ tay. Hai người ngồi cạnh nhau, nhưng gần như không nói gì, giống như sợ một lời nói bất chợt sẽ làm xao động sự bình yên rất đẹp của buổi chiều hôm ấy.

Có lúc, trong khi chăm chú nhìn lên sân khấu, tôi khẽ đặt bàn tay xuống thành ghế. Ở đó đã có một bàn tay khác. Hai bàn tay chạm nhau rất khẽ. Đủ để cả hai cùng giật mình. Em rụt tay lại trước. Rồi khẽ quay sang nhìn tôi. Lần này, em cười rõ hơn. Chiếc răng duyên lại thấp thoáng nơi khóe môi."Tại anh đấy!". Em nói rất nhỏ. Không phải lời trách mà giống một câu đùa hơn.

Tôi lúng túng đến mức chỉ biết cười. Có lẽ đó là lần đầu tiên kể từ ngày nhập ngũ, tôi đỏ mặt vì một điều chẳng liên quan đến thao trường hay kỷ luật. Rồi cả buổi chiều hôm ấy, chúng tôi không ai đặt tay xuống thành ghế thêm một lần nào nữa. Đến giờ giải lao, câu chuyện giữa hai người cũng chỉ quanh quẩn vài lời xã giao. Em hỏi tôi quê ở đâu. Tôi nói mình đến từ Nghệ An. Em bảo chưa một lần được vào miền Trung, nhưng vẫn nhớ những bài hát dân ca xứ Nghệ có nhắc về dòng Lam, núi Hồng. Tôi hỏi em sau này muốn làm gì.

Em cười, chiếc răng duyên lại hiện lên rất nhanh:

- Em chưa biết nữa. Chỉ mong được học thật xa để sau này lại có dịp trở về Hà Nội.

Tôi không ngờ, nhiều năm sau, điều em nói hôm ấy lại trở thành sự thật. Buổi giao lưu khép lại trong một bài hát tập thể. Khi đơn vị chuẩn bị lên xe, em chỉ khẽ cúi đầu chào. Tôi cũng chào lại. Không ai xin địa chỉ và cũng không lời hẹn gặp. Cũng không ai nghĩ rằng đó sẽ là lần cuối cùng.

Chiếc xe từ từ rời cổng trường. Qua ô cửa kính, tôi ngoái nhìn lại. Dưới hàng cây, màu áo trắng vẫn lẫn trong nắng chiều Hà Nội. Tôi không còn nhận ra em đứng ở đâu. Điều còn ở lại trong tôi, sau buổi chiều ấy, không phải là khuôn mặt của một cô nữ sinh mà là cảm giác rất lạ của một chàng lính vừa nhận ra rằng, sau những tháng ngày chỉ có tiếng còi, tiếng bước chân và thao trường, trái tim mình vẫn còn nguyên sự trong trẻo để rung động trước một nụ cười, một chiếc răng duyên và một cái chạm tay rất khẽ. Có lẽ, đó cũng là cách Hà Nội đón một người từ phương xa đến chăng?

Nơi Hà Nội giữ hộ tuổi trẻ

Ba mươi mấy năm sau, trong một lần trở lại Hà Nội, tôi tình cờ gặp một người thầy cũ của Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm. Sau những câu chuyện về mái trường, về những thế hệ học trò đã trưởng thành, tôi đánh bạo hỏi thăm cô nữ sinh năm nào. Thật ra, tôi cũng không chắc mình còn nhớ đúng tên em. Chỉ nhớ nụ cười có chiếc răng duyên và buổi chiều rất xa ấy.

Thầy mỉm cười, nghĩ một lát rồi bảo:

– À... cô bé ấy sau này học rất giỏi. Tốt nghiệp xong thì sang Pháp du học. Nghe đâu ở lại bên ấy làm việc rồi lập gia đình.

Tôi nghe vậy và chắc chắn rằng, sẽ không có thêm điều gì đặc biệt, không có cuộc hội ngộ bất ngờ như trong tiểu thuyết. Lạ là khi nghe xong, trong lòng tôi không hề có cảm giác tiếc nuối. Bởi ngay khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nhận ra một điều mà suốt mấy chục năm qua mình vẫn nhầm lẫn. Hóa ra, tôi chưa bao giờ quay lại Trần Phú để đi tìm cô gái ấy. Nếu thật sự muốn tìm, có lẽ tôi đã hỏi từ rất lâu. Trong thời đại của mạng xã hội, một cái tên đôi khi chỉ cách nhau vài cú nhấp chuột. Nhưng tôi chưa từng làm thế. Tôi chỉ lặng lẽ trở về. Đứng ngoài cánh cổng. Nhìn vào khoảng sân. Nghe tiếng trống trường. Nhìn những tà áo trắng tan học. Nhờ người qua đường chụp cho một bức hình kỷ niệm. Rồi lặng lẽ ra về.

Thì ra điều níu chân tôi suốt hơn ba mươi năm qua không phải là một con người mà là một khoảng thời gian - một buổi chiều; một sắc màu - màu nắng; một thanh âm - tiếng đàn ghi-ta và một cái chạm tay rất khẽ. Và hơn tất cả, là cậu lính mười chín tuổi năm nào. Có lẽ ai rồi cũng có một nơi như thế trong đời. Một nơi chỉ cần bước tới là thời gian bỗng chậm lại. Chỉ cần đứng yên, ta đã nghe thấy tiếng bước chân của chính mình năm cũ. Hà Nội, với tôi, chính là nơi ấy.

Thành phố này không chỉ lưu giữ lịch sử của một dân tộc. Mà còn âm thầm cất giữ tuổi trẻ của biết bao con người từng gắn bó hay chỉ thoáng ghé qua. Có những người gửi lại đây một mối tình đầu. Có người gửi lại những năm tháng sinh viên. Có người gửi lại tuổi thơ bên hồ Gươm, dưới những hàng sấu già. Còn tôi...Tôi gửi lại nơi đây một chàng lính mười chín tuổi còn nguyên sự vụng về, còn biết đỏ mặt vì một nụ cười của một cô nữ sinh xa lạ. Để rồi mỗi lần trở lại, tôi không phải đi tìm em. Mà là đi tìm cậu ấy.

Chiều nay, tôi rời Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm khi nắng hạ vẫn còn loang trên những bậc tam cấp. Phía sau lưng, cánh cổng trường vẫn khép im lìm, còn tiếng ve thì ngân mãi dưới những hàng xà cừ già.

Tôi chợt mỉm cười. Hóa ra, có những nơi ta trở lại không phải để tìm một người, cũng không phải để níu một kỷ niệm. Chỉ là để biết rằng, giữa bao đổi thay của thời gian, vẫn còn một phần tuổi trẻ được thành phố dịu dàng gìn giữ. Với tôi, Hà Nội là nơi ấy. Nơi đã lặng lẽ chạm vào một chàng lính mười chín tuổi. Và suốt hơn ba mươi năm sau, vẫn chưa từng buông tay./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Nguyễn Đình Ánh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Nguyễn Đình Ánh