Lý luận - Phê bình

Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng

Phạm Khánh Duy 11:03 22/07/2026

Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.

Và có lẽ, không ở đâu ký ức dân tộc hiện hữu sống động và giàu cảm xúc như trong những trang thơ viết về người lính. Từ những vần thơ rực lửa chiến hào của thời đại sử thi đến những suy tư thời hậu chiến và thời bình, hình tượng người lính đã đi qua một hành trình dài. Đó là hành trình từ “cái ta” chung quyết liệt đến “cái tôi” - bản ngã riêng, gương mặt sử thi, lý tưởng đến gương mặt đời thường và sự chiêm nghiệm. Qua đó, thơ ca về người lính cho thấy sự kế thừa và tiếp nối của hình tượng này từ văn học quá khứ đến văn học hôm nay. Đó cũng là không gian để quá khứ hào hùng soi chiếu hiện tại, nhắc nhở dân tộc về nguồn cội và giá trị của hòa bình.

Người lính trong văn học thời chiến - gương mặt sử thi và lý tưởng

Khi ký ức cộng đồng được khơi dòng bởi khát vọng tự do cháy bỏng, hình tượng người lính bước vào văn học thời chiến với vai trò là hạt nhân trung tâm của lịch sử. Trong những năm tháng ấy, thơ ca không chỉ là nghệ thuật mà còn là vũ khí, là bản đại hợp xướng tôn vinh gương mặt sử thi và lý tưởng cao đẹp của một thế hệ đương đầu với chiến tranh vì Tổ quốc. Họ ra đi không chỉ bằng đôi chân của một cá nhân mà bằng sức mạnh của cả một thời đại đầy biến động. Họ chính là “thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” (Bằng Việt), là hiện thân của tinh hoa, khí phách của cộng đồng, dân tộc, thấm đẫm tinh thần yêu nước và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Thế kỷ XX đầy biến động, cả dân tộc phải gồng mình trước những cơn bão táp của thời đại: kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới. Hình tượng người lính trong thơ ca, vì thế, cũng chuyển động theo bước đi của lịch sử. Mặc dù thơ về người lính Vệ quốc trong mỗi cuộc chiến tranh có những đặc trưng riêng, nhưng họ đều là kết tinh của những gì cao đẹp nhất, của lòng yêu nước và lý tưởng quên mình vì “Đất nước hình tia chớp” (Trần Mạnh Hảo).

Nhìn lại bức chân dung người lính trong văn học thời chiến, độc giả vừa ngỡ ngàng, vừa cảm phục trước một thời đau thương nhưng hào hùng; trước những người lính, từ những người được ghi công tên tuổi đến những người “Không ai nhớ mặt đặt tên” (Nguyễn Khoa Điềm), đã hiến dâng tuổi thanh xuân, thậm chí hy sinh vì dân tộc. Mỗi người lính hiện lên trong thơ ca thời chiến có một cái tên riêng, một hoàn cảnh riêng, nhưng tất cả đều là những con người Việt Nam kiên cường, yêu nước và giàu lý tưởng. Thơ, thực chất, là sự góp nhặt những bi kịch, nỗi đau cùng vẻ đẹp sử thi của người lính trong cơn bão lịch sử. Có những bài thơ xây dựng hình tượng người lính với vẻ đẹp hào hùng, cao cả, mang màu sắc lý tưởng hóa; cũng có những bài thơ, mà tác giả là người trong cuộc, ghi lại một thời đại khốc liệt, thể hiện nỗi đau của người lính.

Đọc thơ Hữu Loan, hình tượng người lính vệ quốc thời chống Pháp hiện lên trước mắt người đọc từ diện mạo đến đời sống tâm hồn và ý chí chiến đấu. Họ là những chàng trai trẻ đang phơi phới tuổi xuân nhưng sẵn sàng gác lại hạnh phúc riêng để lên đường vì Tổ quốc. Hình tượng anh bộ đội trong “Màu tím hoa sim” (cũng là hình ảnh phóng chiếu của tác giả) được tái hiện từ diện mạo đến bi kịch, qua đó làm nổi bật thế giới nội tâm của người lính: “Tôi ở đơn vị về/ Cưới nhau xong là đi/ Từ chiến khu xa/ Nhớ về ái ngại/ Lấy chồng thời chiến binh/ Mấy người đi trở lại/ Nhỡ khi mình không về/ thì thương/ người vợ chờ/ bé bỏng chiều quê”. Đó cũng là nỗi đau chung của bao người trong hoàn cảnh đầy thử thách.

Hình ảnh đất nước từ gian lao, máu lửa mạnh mẽ vươn dậy; hình ảnh các thế hệ nhân dân nối tiếp nhau đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, cất cao bài ca chiến thắng và bài ca ca ngợi quê hương, đất nước, con người đã đi vào thơ Quang Dũng, Tố Hữu, Hoàng Cầm, Hoàng Trung Thông, Vũ Cao, Lê Anh Xuân, Chế Lan Viên, Giang Nam.

Trong thơ Giang Nam, hình ảnh con người Việt Nam được tái hiện chân thực từ hoàn cảnh đến phẩm chất, từ cụ thể đến khái quát. Họ được đặt trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Đau thương vô cùng khi mảnh đất quê hương qua bao năm tháng đã thấm đẫm máu và sự hy sinh của những người yêu nước. Nhân vật trữ tình “tôi” trong bài thơ “Quê hương” xúc động nhận ra: “Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”. Đất nước không chỉ bị tàn phá mà còn lưu giữ những chứng tích đau thương của chiến tranh. Những chứng tích ấy, theo thời gian, vẫn không hề phai nhạt.

Hiện lên trong thơ Vũ Cao là những người nông dân chân lấm tay bùn, những người con của làng quê giàu trách nhiệm với đất nước và nhân dân. Họ được khắc họa trong nhiều mối quan hệ: tình yêu lứa đôi, tình yêu gia đình, tình đồng chí, tình quân dân, tình yêu quê hương, Tổ quốc... “Con người cá nhân” và “con người công dân”, “con người cộng đồng” đã đan cài, hòa nhập nhuần nhuyễn vào nhau trong sáng tác của Vũ Cao. Trong bài thơ “Núi Đôi”, mối quan hệ của chàng trai và cô gái biến đổi theo thời gian. Từ tình yêu đôi lứa tuổi “mười bảy”, “đôi mươi”, họ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh và trở thành những chiến sĩ dũng cảm, kiên trung: “Anh vào bộ đội lên Đông Bắc/ Chiến đấu quên mình năm lại năm”, “Mấy năm cô ấy làm du kích/ Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng”. Tình yêu lứa đôi dần hòa vào tình đồng chí, đồng đội: “Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí/ Một tấm lòng trong vạn tấm lòng”. Ta hiểu vì sao giữa khói lửa kháng chiến chống Pháp, “Núi Đôi” vẫn có sức sống bền bỉ trong lòng bạn đọc, dù viết về tình yêu lứa đôi và được xem là một trong những bài thơ tình đặc sắc của thời đại. Bởi lẽ, trong tác phẩm, tình yêu riêng đã hòa vào tình yêu quê hương, đất nước, nâng đỡ con người vượt lên mất mát, giữ trọn niềm tin và lý tưởng chiến đấu.

Hình ảnh người lính trong trường ca “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo cũng được nhìn từ những mất mát và hy sinh. Ký ức chiến tranh hiện lên trong dòng hồi tưởng của người cầm bút. Đó là những nấm mồ vô danh lạnh lẽo trên đường hành quân, giữa vùng lam sơn chướng khí: “ngày dân tộc tụ về đường số Một/ lòng không nguôi thương những cánh rừng này/ nơi hàng vạn đứa con nằm lưng đèo cuối dốc/ dọc theo lối mòn chìm khuất dưới tầng cây”; là những người con gái xuân sắc vĩnh viễn nằm lại dưới dòng sông: “các chị giữ như giữ những thói quen/ trong đáy sông lặng lẽ đời mình/ tôi thương qúa những gì đã cho tôi hình dung Tổ quốc”; là những người hiến dâng bầu máu nóng cho đất nước và mãi mãi ra đi: “nhiều đứa cùng tuổi với bài hát của anh/ lòng vô tư đã hát một lần/ và như anh ngã xuống”... Tất cả là nỗi đau chung mà dân tộc phải hứng chịu, là mặt sau của sự hào hùng, lẫm liệt và niềm vui chiến thắng mà văn chương thời chiến tập trung thể hiện.
Sau tất cả, chân dung người lính thời chiến không chỉ được khắc tạc bằng lý tưởng sử thi mà còn bằng những mảnh vỡ của bi kịch cá nhân và nỗi đau mất mát. Họ bước vào thơ với tư thế của những người gánh vác vận mệnh dân tộc, biến những hy sinh thầm lặng thành phù sa màu mỡ bồi đắp cho dáng hình đất nước.

Người lính trong văn học thời bình - gương mặt đời thường và sự chiêm nghiệm

Khi tiếng súng đã lùi xa vào dĩ vãng và tiếng bom gầm chỉ còn là dư chấn trong ký ức, hình tượng người lính rời khỏi bức tượng đài sử thi để trở về với nhịp sống đời thường. Đây là lúc văn học thời bình viết về chiến tranh nói chung, thơ về người lính nói riêng, mở ra một chương mới, nơi hình tượng người lính không còn hiện thân chủ yếu trong vẻ đẹp lẫm liệt giữa chiến trường mà hiện lên với gương mặt đời thường và những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân sinh. Bước ra khỏi cuộc chiến, họ phải đối mặt với những “cuộc chiến mới”: cuộc chiến với sự hữu hạn của thân phận, với những nỗi lo thường nhật, với sự mai một của những giá trị tốt đẹp trước những biến động văn hóa, tư tưởng. Thơ viết về người lính thời bình vì thế không còn vang vọng âm hưởng khải hoàn ca mà quay về soi chiếu nội tâm, bóc tách những góc khuất tâm hồn và những vết sẹo chưa lành. Trong không gian hòa bình, người lính hiện lên chân thực, là gạch nối giữa một quá khứ hào hùng và một hiện tại đang từng ngày đổi thay.

Thơ viết về người lính trong văn học thời bình không hề ít. Tất nhiên, cái nhìn về người lính của tác giả thời bình không hoàn toàn trùng khít với cái nhìn của các nhà thơ thời chiến. Tuy vậy, phải khẳng định rằng hình tượng người lính và cách tư duy về hình tượng ấy trong văn học thời chiến vẫn là nền tảng cho thơ viết về người lính hôm nay. Đó là sự kế thừa và làm mới hình tượng cho phù hợp với thời đại và nhu cầu tiếp nhận của công chúng. Một số cây bút đương đại vẫn tha thiết với đề tài này như Nguyễn Xuân Thủy, Nguyễn Quang Hưng, Đoàn Văn Mật, Lữ Mai, Phạm Vân Anh, Trần Việt Hoàng… Sự tiếp nối ấy không phải là sự lặp lại những mô-típ cũ mà là sự tiếp biến giá trị trong một hệ quy chiếu mới. Nếu người lính thời chiến soi mình vào lý tưởng cứu quốc thì người lính hôm nay soi mình vào trách nhiệm giữ gìn sự bình yên của nhân dân, đồng thời ý thức sâu sắc hơn về đời sống cá nhân. Vẻ đẹp của họ vẫn vẹn nguyên sự chất phác, kiên cường, anh dũng nhưng đã mang thêm chiều sâu của trải nghiệm và thức tỉnh.

Trần Việt Hoàng - một cây bút trẻ đã “bén rễ” với đề tài người lính ngay từ những sáng tác đầu tay. Hình tượng người lính hôm nay được kết tinh rõ nét trong trường ca “Bay phía mùa” (2025). Đây là tác phẩm giàu cảm xúc về sự hy sinh của những người lính trẻ trong thời bình. Họ hiện lên chân thực, bình dị và đầy khát vọng: “lính công binh mơ những giấc sen/ then mắt mở lối rừng/ con đường nối mạch biên ải/ vai áo còn nâu sẫm/ lòng như sông khởi nguồn từ núi/ cúi đầu trước gian lao/ sao biên giới hiểu chân trời khao khát”. Họ hy sinh ngay cả khi đất nước yên bình: “giữa thời bình/ những chiến sĩ hy sinh/ trông mong gửi lại/ hoa toả hương chân đồi/ không còn chơi vơi/ đỉnh trời mây chuyển hồng/ không xiết đến cùng/ bóng lặng in sâu/ tưởng niệm người đi...”. Tiếng thơ ấy là minh chứng cho dòng chảy bền bỉ của văn học về người lính, bởi quá khứ hào hùng vẫn luôn soi bóng, tiếp thêm lửa cho những trang viết hôm nay.

Cùng thuộc thế hệ trẻ và chưa từng trải qua chiến tranh, thơ viết về người lính của Lữ Mai lại mang những sắc thái riêng. Nhắc đến Lữ Mai, người đọc thường nhớ đến một nhà thơ gắn bó sâu nặng với hình tượng người lính. Chị dành nhiều tâm huyết cho đề tài này, từ việc hồi cố không gian chiến tranh với chân dung người lính đậm chất sử thi đến những suy tư về người lính trong cuộc sống đời thường hôm nay. “Ngang qua bình minh” (viết về người lính nhà giàn) và “Chư Tan Kra mây trắng” (viết về người lính “mũ sắt” thời chống Mỹ) là những trường ca tiêu biểu tái hiện vẻ đẹp sử thi của người lính trong mối liên hệ với thời đại hôm nay. Hồi tưởng về những năm tháng chiến tranh, người lính trong thơ Lữ Mai gác lại những điều riêng tư, sẵn sàng xông pha nơi tuyến đầu máu lửa và đón nhận hy sinh như một cuộc từ giã vĩnh hằng: “Đời lính muôn điều kỳ lạ/ đến tận cùng là gặp mẹ của con/ khi trúng đạn/ khi nằm yên trút hơi thở cuối/ miệng thốt lên hai tiếng Mẹ ơi/ tiếng gọi đầu tiên/ tiếng gọi cuối cùng/ ngọn nguồn hy sinh - sức mạnh”. Bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc, Lữ Mai làm nổi bật lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ: “người nằm xuống tuổi hồn nhiên như cỏ/ loài hoa thiêng đẹp đến nao lòng/ ôi mưa nguồn lũ rừng núi lở/ sững dấu chân buồn qua thế kỷ”. Đó đồng thời cũng là mạch nguồn của thời đại, là vẻ đẹp được kế thừa qua nhiều thế hệ người Việt Nam.

Các nhà thơ hôm nay, đặc biệt là những cây bút trẻ, không trực tiếp trải qua chiến tranh nhưng vẫn viết xúc động về người lính. Họ đóng vai trò “người kết nối”, làm sống dậy ký ức về chiến tranh và người lính, đồng thời đem đến những cảm nhận mới mẻ cho hình tượng này. Trong thơ của Lữ Mai, Trần Việt Hoàng, Đoàn Văn Mật, Phát Dương, Lê Quang Trạng, Nguyễn Đức Phú Thọ…, quá khứ không phải là một bảo tàng khép kín mà là một thực thể sống động, luôn soi chiếu và trở thành chất liệu quý giá cho thơ ca hôm nay. Các tác giả đã đặt người lính vào những “cuộc chiến không tiếng súng” để khám phá những chiều kích mới của đời sống nội tâm. Họ không để người lính ngủ yên trong quá khứ hào hùng mà đưa hình tượng ấy trở lại với hơi thở của thời cuộc, trở thành biểu tượng của thời đại mới.

Hành trình của thơ ca viết về người lính, từ những năm tháng hoa lửa sử thi đến những nốt trầm chiêm nghiệm của thời bình, chính là hành trình tự nhận diện và soi bóng tâm hồn dân tộc. Từ đây, có thể thấy, quá khứ hào hùng chưa bao giờ ngủ yên trong lòng dân tộc và hiện tại yên bình cũng chưa bao giờ tách rời những dấu tích của lịch sử. Cả hai vẫn song hành, soi chiếu và tiếp nối nhau như một dòng chảy không đứt đoạn. Qua tiếng thơ của các thế hệ đi trước và những cây bút đương đại, hình tượng người lính vẫn là biểu tượng đẹp đẽ của bản lĩnh và khát vọng Việt Nam. “Đi tìm thời gian đã mất” (Marcel Proust) để thêm trân trọng những gì đang có, thơ ca đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình là giữ cho ngọn lửa ký ức luôn cháy sáng, để hình bóng người lính mãi là điểm tựa tinh thần, nhắc nhở chúng ta sống sâu sắc và xứng đáng hơn với những hy sinh của các thế hệ cha anh./.

Phạm Khánh Duy