Hà Nội xưa - nay

Nhớ đình xưa nơi phố cũ

Nhà văn Lê Phương Liên 20:46 06/07/2026

Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.

Trong ký ức tôi, bên dãy nhà số chẵn đoạn từ đầu phố Đinh Liệt đến lối vào chợ Hàng Bè cũ từng có một ngôi đình cổ. Từ ngoài phố bước qua cổng đình là khoảng sân lát gạch rộng rãi. Tòa đình mái cong lợp ngói vảy cá, mái ngói thâm nâu thấp thoáng rêu xanh. Dưới mái ngói cổ là gian đình rộng rãi có hàng cột gỗ lim trầm mặc. Ngôi đình ấy có tên là đình Cầu Gỗ.

Thuở tôi còn nhỏ, phố Hàng Dầu và đoạn phố Đinh Tiên Hoàng từ đền Bà Kiệu tới ga xe điện Bờ Hồ và phố Cầu Gỗ thuộc cùng một tiểu khu. Mọi sinh hoạt cộng đồng của người dân trong tiểu khu khi ấy đều diễn ra tại đình Cầu Gỗ.

Tôi nhớ nhất những đêm Trung thu cuối những năm 1950, khi trẻ con cả ba khu phố tụ tập về sân đình để rước đèn, xem múa sư tử và phá cỗ. Hà Nội những năm 1956, 1957 vẫn chưa bước vào thời tem phiếu nên mâm cỗ Trung thu còn đủ đầy, rực rỡ. Có bánh nướng, bánh dẻo thơm phức; những bông hoa làm từ đu đủ được các bà, các cô tỉa gọt khéo léo; những chiếc đèn ông sao, đèn con cá, đèn thỏ đủ sắc màu lung linh dưới ánh trăng rằm.

Nhưng điều khiến lũ trẻ chúng tôi thích thú nhất lại là một tòa tháp dựng bằng mía tím (thứ mía mềm và ngọt). Tháp mía cao lừng lững như cột cờ Hà Nội, trên đỉnh cắm lá cờ đỏ sao vàng bằng giấy bóng kính óng ánh dưới trăng. Chúng tôi thích cái tháp ấy đến mức khi phá cỗ, các bà các cô tháo từng khúc mía chia cho đám trẻ mà ai cũng tiếc nuối vì tòa tháp đẹp đã không còn nguyên vẹn. Đã bao năm tháng đi qua nhưng hình ảnh mâm cỗ Trung thu với “cột cờ” mía tím trên sân đình Cầu Gỗ vẫn in đậm trong ký ức tôi biết bao năm tháng sau này.

Năm 1964, đình Cầu Gỗ lại lưu giữ trong tôi một ký ức đặc biệt. Đó là một ngày cuối tháng Tư, khi Hà Nội bắt đầu chớm hè, tôi được đưa bà ngoại đi bầu cử Quốc hội khóa III tại đình Cầu Gỗ. Năm ấy, bà tôi đã ngoài bảy mươi tuổi nhưng vẫn háo hức như đón một ngày hội lớn. Bà mặc áo dài lụa tơ tằm màu nâu, quần lĩnh đen, thong thả bước trên vỉa hè phố Hàng Dầu rồi rẽ sang phố Cầu Gỗ. Tôi đi bên bà, nắm bàn tay gầy gò mà ấm áp của bà, mắt luôn để ý từng viên gạch dưới chân. Ngày ấy, vỉa hè thực sự dành cho người đi bộ, không có xe cộ dựng chắn lối đi. Tuy nhiên đôi khi có viên gạch nứt vỡ hay quả chín rơi từ trên cây xuống nếu dẫm phải cũng có thể dễ trượt chân ngã.

Mắt bà tôi khi ấy đã mờ nhưng bà vẫn không dùng kính lão. Thế mà bà vẫn tự tay nhặt rau, muối dưa cà, làm mắm tép và khâu vá quần áo cho các cháu. Khi khu phố phát thẻ cử tri, bà vui và hãnh diện lắm. Mẹ tôi được cử vào tổ phục vụ bầu cử nên cho tôi đi theo giúp bà làm nghĩa vụ công dân.

Khi bước vào sân đình, tôi thấy nơi ấy tưng bừng cờ hoa, vang vang tiếng nhạc. Giữa gian đình cổ kính là hòm phiếu đỏ tươi có hình Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mùi hương trầm lan nhẹ trong không gian trầm mặc của những hàng cột lim và mái ngói cũ. Ngoài sân đình, loa truyền thanh vang lên bài hát “Những ánh sao đêm”. Với cô bé mười ba tuổi khi ấy, được cùng bà ngoại bước vào đình trong ngày hội lớn của đất nước là một niềm tự hào không thể nào quên.

Mùa hè năm 1965, chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc. Quanh Hồ Gươm, những hầm trú ẩn được đào bên các vườn hoa. Trên nóc các tòa nhà cao như Ngân hàng Nhà nước ở phố Ngô Quyền hay Nhà in báo Nhân Dân phố Tràng Tiền đã xuất hiện các ụ súng phòng không. Còi báo động từ Nhà hát Lớn Hà Nội rú lên, hòa cùng loa phát thanh: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 50 cây số. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị chiến đấu. Đồng bào xuống hầm trú ẩn”.

Trong những ngày ấy, các cô cậu học trò mười bốn, mười lăm tuổi như chúng tôi được gọi vào đội cứu thương của khu phố. Chúng tôi tập trung tại đình Cầu Gỗ rồi đền Hàng Trống để học băng bó, buộc nẹp sơ cứu cho người bị thương, tập tiêm trên thân cây chuối. Những kỷ niệm chuẩn bị chiến đâu ấy sao mà hào hứng vui tươi vô cùng….

Mùa thu năm 1965, tôi theo gia đình đi sơ tán ở Thuận Thành (Bắc Ninh) để theo học hết chương trình phổ thông trung học. Sau 3 năm trở về, đình Cầu Gỗ vẫn còn đó. Mỗi lần đi ngang qua, bao ký ức cũ lại hiện về trong tôi. Ngay cả trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, ngôi đình cùng những di tích quanh Hồ Gươm như Tháp Bút, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc… vẫn không hề suy chuyển.

Nhà văn Lê Phương Liên (tác giả bài viết) và ông Nguyễn Văn Ngọc (người thủ từ Đình Cầu Gỗ hiện nay) trên căn gác nhỏ lưu giữ những di vật còn lại của đình Cầu Gỗ.

Rồi thời gian lặng lẽ trôi đi. Tôi rời ngôi nhà cũ, xa dần phố Cầu Gỗ. Mãi nhiều chục năm sau, khi tìm lại ký ức xưa qua sách cũ và tư liệu, tôi mới biết đình Cầu Gỗ chính là đình thôn Nhiễm Thượng cùng thôn Hương Minh và thôn Hương Bình, thuộc tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, nay ở số 64 phố Cầu Gỗ.

Mùa xuân năm nay, tôi tìm đến địa chỉ ấy với niềm háo hức xen lẫn hồi hộp. Nhưng trước mắt tôi giờ là một khách sạn và một lối ngõ nhỏ hẹp, tối tăm. Tôi dò hỏi mãi mới gặp được một người dân và biết đình vẫn còn tồn tại phía trong. Người thủ từ sau nhiều câu hỏi dò xét đã dẫn tôi lên tầng năm của một ngôi nhà nhỏ. Ở đó, trên diện tích chỉ khoảng mười mét vuông, vẫn còn ban thờ Thành hoàng, sắc phong triều Nguyễn, hoành phi, câu đối và những đồ thờ cũ của đình xưa.

Đứng trong không gian chật hẹp ấy, tôi bỗng thấy nhói lòng. Một ngôi đình từng là nơi sinh hoạt cộng đồng của bao thế hệ cư dân quanh Hồ Gươm, từng chứng kiến những mùa Trung thu, những ngày bầu cử, những tháng năm chiến tranh của Hà Nội… nay chỉ còn thu lại trong một căn phòng nhỏ trên tầng cao. Những khoảng sân rộng, mái ngói rêu phong và tiếng cười trẻ nhỏ năm nào giờ chỉ còn tồn tại trong ký ức của những người đã từng gắn bó với nơi ấy. Nếu ngôi đình xưa vẫn còn nguyên vẹn trên phố Cầu Gỗ hôm nay, có lẽ con phố này sẽ lưu giữ được nhiều hơn vẻ đẹp văn hóa của Hà Nội xưa trong mắt người dân và du khách. Với tôi, đình Cầu Gỗ mãi là một phần không thể mất đi của Hà Nội xưa./.

Nhà văn Lê Phương Liên