Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
Giáo sư Hà Minh Đức sinh năm Giáp Tuất (1934), quê ở làng Nhân Hòa, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. “Kể chuyện ngày xưa” được ông viết khi đã đi gần trọn một thế kỷ đời người. Ở tuổi ấy, ký ức về những năm tháng đã qua càng trở nên rõ nét: hình ảnh đất nước, quê nhà, người thân, thầy cô dạy dỗ, bạn bè đồng nghiệp và học trò…

Cuốn sách nói tới “người xưa” với tư cách là những con người cụ thể trong đời sống xã hội: tướng lĩnh, trí thức, nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo… từng sống và hoạt động ở những thời điểm không xa hiện tại. Điểm xuất phát của suy ngẫm là quan niệm “Nhân sinh thất thập cổ lai hi” và điểm chốt là “Nhân sinh bách tuế vi kì”. Trong khoảng đời người ấy, biết bao chuyện của đất nước và đời thường đã diễn ra, tạo nên những dấu ấn và kỳ tích của một thời.
Xét về đời người, ông cha ta từng nói: “Nhân sinh bách tuế vi kì” - trăm năm trong cõi người ta, ai chạm đến mốc ấy đã trở thành “người xưa”. Gần gũi hơn là câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, bảy mươi tuổi xưa nay hiếm, cũng đã mấp mé ngưỡng người xưa. Với tinh thần ấy, tác giả lấy mốc trăm năm làm một điểm nhìn. Có những người chỉ sống đến tám, chín mươi tuổi nhưng vẫn để lại nhiều đóng góp đáng quý cho đời sống tinh thần của xã hội. Chính những năm tháng sống và cống hiến ấy, dù chỉ là một phần nhỏ, cũng góp phần tạo nên giá trị của cái gọi là “người xưa”.
Cuốn sách gồm ba phần. Phần I Làng quê xưa nói về nơi tác giả sinh ra với nhiều kỷ niệm vui buồn. Ông dành những trang viết về chợ làng và các sinh hoạt lễ hội. Phần này thiên về hồi ức và tản văn - thể loại đang được nhiều tác giả lựa chọn, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong những năm tháng xã hội hướng về cội nguồn. Là nhà nghiên cứu phê bình, đồng thời có sáng tác thơ và văn xuôi nghệ thuật (bút ký, du ký…) nên những trang viết ở đây mềm mại, giàu hình ảnh, chi tiết sinh động và chứa đựng nhiều mỹ cảm.
Phần II Hành trình gian nan sáng tạo văn hóa - văn nghệ nhắc đến những “người đi xa tiếng thơm còn lại”, đó là các bậc giáo sư, thầy dạy của Hà Minh Đức mà tác giả luôn kính trọng như: Hoàng Xuân Nhị, Đặng Thai Mai, Trần Đức Thảo, Nguyễn Lương Ngọc… Bên cạnh đó là các nhà văn tên tuổi như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh… - những người từng là đồng nghiệp của ông.
Phần III Một thế hệ giàu năng lượng sáng tác bứt phá gồm các đoản văn chân dung về 9 gương mặt: nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà văn Nguyễn Khắc Trường; nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo; Giáo sư Trần Quốc Vượng; Giáo sư, nhà văn Hoàng Ngọc Hiến; nhà văn Nguyễn Huy Thiệp; Giáo sư, Viện sĩ Phan Cự Đệ; Lưỡng quốc Tiến sĩ Đỗ Văn Khang; nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên.
Ngoài ra, nhiều nhà văn và học giả trong lĩnh vực khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuật tuy không có bài riêng nhưng vẫn được nhắc đến một cách trân trọng như: Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Phan Ngọc, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chú, Vũ Khiêu, Kim Lân, Đặng Anh Đào, Nguyễn Khải, Nguyễn Khoa Điềm, Niculin (Liên Xô, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam) và cả Hà Diệp - em gái út của tác giả, một nhà nghiên cứu sân khấu xuất sắc, từng được trao Giải thưởng Nhà nước cũng được nhắc tới với nhiều tình cảm.
Khi văn xuôi đã trở thành một thể loại sáng tác, hồi ký được xem là một tiểu thể loại, trong đó có nhiều nhánh như bút ký, hồi ký, tản văn, đoản văn, tạp văn… Cuốn sách này là sự tích hợp từ một số nhánh tiểu loại, đó là hồi ký (hồi ức) xen kẽ với đoản văn, tản văn.
Đây là tập hồi ký thứ ba của Hà Minh Đức, sau “Đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật” (2020) và “Dòng ký ức bừng sáng” (2024). Tác phẩm mới bổ sung nhiều điều trước đây tác giả chưa đề cập, đồng thời nhấn mạnh cảm thức tuổi tác khi ông đã bước qua tuổi chín mươi. Dù vậy, trí lực vẫn minh mẫn, trí nhớ tốt, xúc cảm vẫn thắm đượm. Ông chú ý nhiều đến những chi tiết và hình ảnh của quá khứ.
Ở tuổi này, tác giả như người đứng trên con thuyền thời gian, luôn ngoái nhìn về phía sau, vì thế thường liên tưởng tới các mốc tuổi mang tính sự kiện của những nhân vật được nhắc đến. Nỗi buồn của người nhận ra quỹ thời gian đời mình ngày một thu hẹp chỉ thoáng qua. Ông hài lòng với những điều đã làm được cho bản thân và cho xã hội, đồng thời trân trọng những con người từng gặp gỡ trong cuộc đời.
Văn của Hà Minh Đức vẫn mang vẻ điềm đạm của một trí thức giàu trải nghiệm, sáng trong, lành hiền nhưng không mất đi chất hóm hỉnh, tinh tế. Viết về Nguyễn Tuân, ông đặt câu hỏi: “nổi tiếng một thời hay mãi mãi?”. Nhắc đến Nguyễn Lương Ngọc, ông bày tỏ sự cảm thông với một trí thức uyên bác nhưng không gặp nhiều thuận lợi. Với Hoàng Ngọc Hiến, ông nhận xét: “đặc biệt nhạy cảm với cái mới, luôn tôn trọng nguyên tắc và lý tưởng sống nhưng không tán thành cái gọi là chủ nghĩa hiện thực mang tính giáo điều và máy móc”.
Về Nguyễn Khắc Trường, ông đồng tình với tiểu thuyết “Lắm người nhiều ma” khi tái hiện bức tranh làng quê với những tranh chấp quyền lực giữa các dòng họ là chuyện có thật. Từ đó, tác giả liên hệ đến dòng họ của gia đình mình ở quê nhà với nhiều nghĩa tình ấm áp. Những câu chuyện tình yêu, được và mất bởi số phận và hoàn cảnh thời thế cũng được kể lại bằng giọng điệu tinh tế, hóm hỉnh và bao dung.
Bên cạnh đó, tác giả có những dòng viết lý thú kiểu chuyện làng văn nghệ. Chẳng hạn nhà ngôn ngữ học, dịch giả Cao Xuân Hạo thường giữ những lá thư bạn gái gửi trong chiếc ví mang theo bên người, thỉnh thoảng lại mở ra đọc khi đi công tác xa. Nguyễn Huy Thiệp trong một buổi hội thảo, vào lúc giải lao, khi mọi người ra hành lang uống cà phê, ăn nhẹ, thì anh lại một mình trong phòng giở cơm nắm muối vừng ra ăn. Tác giả kết thúc câu chuyện rằng: “Điều khó giải thích là giữa buổi liên hoan đông vui, ồn ào ấy, anh vẫn lặng lẽ, trầm tĩnh và dường như tách biệt khỏi không khí chung quanh”.
Ở tuổi ngoài chín mươi, Giáo sư Hà Minh Đức vẫn viết những trang văn tươi tắn, giàu suy ngẫm và mang ý nghĩa tích cực về đời sống và nghệ thuật. Sau cuốn sách thứ 109 này, hi vọng ông sẽ tiếp tục viết và công bố những tác phẩm mới, ghi những dấu mốc trong cuộc đời sáng tạo rực rỡ của mình./.