Hà Nội xưa - nay

Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian

PGS.TS Trần Thị An 09:48 27/02/2026

Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.

images.jpg
Đền Voi Phục xưa

Hà Nội: “phố” và “phường”

Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là các đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo nên bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” ở tư cách là đơn vị hành chính đô thị với “phường” ở tư cách là một tổ chức nghề nghiệp.

tintuc_cgs_vn_201411218h27m37s.jpg
Đền Quán Thánh xưa

Về đơn vị “phường”, trong công trình “Hà Nội nghìn xưa”, GS.Trần Quốc Vượng và học giả Vũ Tuấn Sán cho rằng: “Chữ “phường” theo nguyên nghĩa là một khu đất vuông. Trên khu đất đó thường tập trung thợ thủ công cùng một nghề và thường cùng một quê”(1)#. Về mối quan hệ giữa “phố” và “phường”, PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ cho biết: “Nếu phường được coi như một diện tích thì phố chính là một trục của phường gồm có một con đường hai bên có nhà cửa - nhà ở và thường là cửa hiệu có bề mặt trông ra mặt đường. Các cửa hiệu đó thường vừa là cửa hàng sản xuất một số mặt hàng thủ công đòi hỏi kỹ thuật tinh (đồ vàng, bạc, đồ thêu, giày hài…) vừa là cửa hàng bày bán các hàng hóa đó”(2)#. Bên cạnh nghĩa là “một tập hợp các con phố kinh doanh”, là “một đơn vị hành chính”, là “nơi tập trung dân cư của thợ thủ công cùng làm nghề” thì “phường” còn có nghĩa chỉ những người cùng chung một nghề, theo nghĩa “phường nghề”. Tục ngữ có câu: “Buôn có bạn, bán có phường” là để chỉ nghĩa này.
Các phố bán sản phẩm của các phường nghề ở Hà Nội thường bắt đầu bằng chữ Hàng (Hàng Bạc, Hàng Đào…). Về đặc điểm địa lý, các phố Hàng đều nằm ở phía Đông thành phố, nơi có sự giao thương thuận lợi bằng đường thủy trong nội khu cũng như với bên ngoài. Về nguồn gốc cư dân của các phường nghề ở Thăng Long - Hà Nội, PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ cho biết bên cạnh một số ít là cư dân sở tại, đa phần cư dân của các phường nghề là từ các làng quê chuyển cư đến Thăng Long sinh sống. Chính vì thế, mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị trở thành một nét bản sắc đô thị của Thăng Long - Hà Nội, không phôi pha dù cho bao bể dâu thời cuộc.

Đình/ đền trong phố - loại hình tín ngưỡng dân gian và bản sắc phố thị Hà Nội

Không khó nhận ra trong guồng quay hối hả và nhộn nhịp của Hà Nội có những khoảng lặng thú vị là các không gian tín ngưỡng phong phú đa dạng. Có thể kể đến cụm di tích Thăng Long tứ trấn, gồm bốn ngôi đền linh thiêng để trấn giữ bốn hướng kinh thành Thăng Long (Hà Nội xưa), mang ý nghĩa bảo hộ phong thủy, tâm linh, chính trị cho kinh đô: đền Bạch Mã (trấn Đông), đền Quán Thánh (trấn Bắc), đền Voi Phục (trấn Tây) và đền/ đình Kim Liên (trấn Nam). Trong đó, đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ và thần Bạch Mã vốn là một ngôi đền gắn với thần sông Tô Lịch, thần núi Nùng và thần Ngựa Trắng, được khởi dựng từ đầu thế kỷ thứ 9 và tồn tại với sự hưng vong của kinh thành Thăng Long ở nhiều thời đoạn lịch sử và hiện vẫn là một địa chỉ tâm linh quan trọng của người dân Thủ đô. Năm 2022, bốn di tích này đã được xếp hạng là di tích đặc biệt cấp Quốc gia.

01.jpg
Đền Bạch Mã xưa

Một loại hình di tích đáng chú ý khác ở Hà Nội là các đình thờ tổ nghề. Là nơi được mệnh danh là “đất trăm nghề”, gần như làng nghề/ phường nghề nào cũng có đình thờ tổ nghề. Ngay trong phố cổ hiện nay, các ngôi đình thờ tổ nghề vẫn còn hiện hữu như những di sản ký ức vừa nhắc nhở đến hoạt động tấp nập của các phường nghề xưa kia trên đất Thăng Long, vừa là nơi thể hiện niềm kính ngưỡng tiền nhân của cư dân Hà Nội nay. Các ngôi đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, thờ tổ nghề chạm bạc), đình Đồng Lạc (phố Hàng Đào, một ngôi đình chợ bán yếm), đình Lò Rèn (phố Lò Rèn, thờ tổ nghề rèn), đình Phúc Hậu (phố Hàng Bông, thờ tổ nghề gương), đình Hà Vỹ (phố Hàng Hòm, thờ tổ nghề sơn), đình Phả Trúc Lâm (phố Hàng Hành, thờ tổ nghề da giày), đình Tú Thị (phố Yên Thái, thờ tổ nghề thêu)… Tên phố và đình thờ tổ nghề bén quyện vào nhau tạo nên một di sản ký ức về một đô thị mà mối quan hệ chặt chẽ nông thôn - đô thị dường như chưa bao giờ là xưa cũ.

thang-long-tu-tran-3-.jpg
Đình/đền Kim Liên xưa

Trong các di tích đình/ đền trong phố, không thể không kể đến một loại hình di tích gắn bó chặt chẽ với thần chủ của các tín đồ trong bối cảnh xuất hiện và lên ngôi của thương nghiệp, đó là các ngôi đền thờ Mẫu. Trên các con phố sầm uất của Hà Nội, có không ít các ngôi đền rực rỡ sắc màu và nhộn nhịp âm thanh đang níu bước chân người qua. Theo bước chân của các con nhang đệ tử và những du khách qua các ngôi đền thờ Mẫu, có thể nhìn thấy những sắc màu này, có thể nghe thấy những thanh âm này, và có thể cảm nhận được các giá trị mà cộng đồng di sản muốn lưu giữ trong hiện tại và phát huy trong tương lai. Từ không gian đậm chất thơ ở Phủ Tây Hồ, một nơi thờ Mẫu đã xuất hiện trong “Vân Cát thần nữ” (tác giả Đoàn Thị Điểm: 1705 - 1748/1749?). Kết nối câu chuyện về “Tây Hồ phong nguyệt quán” trong “Vân Cát thần nữ” với Phủ Tây Hồ ngày nay, ta sẽ thấy hiện lên những sắc màu thời gian thật là thú vị. Trong “Vân Cát thần nữ” nơi tiên chúa Liễu Hạnh xuất hiện mờ ảo sương khói liêu trai, còn Phủ Tây Hồ ngày nay là rực rỡ sắc màu của một trung tâm thờ Mẫu vùng Bắc Bộ. Và không chỉ ở Phủ Tây Hồ, không gian đa sắc với các gam màu mạnh nổi bật với sắc xanh, đỏ, vàng ở các không gian thờ Mẫu tại Hà Nội có ở nhiều địa điểm thờ Mẫu khác như Nguyên Khiết linh từ (Hàng Bạc), Thuận Mỹ linh từ (Hàng Quạt) hay đền Vọng Tiên (Hàng Bông). Và khá thú vị khi chúng ta sẽ lại thấy các gam màu khác, trầm lắng hơn, thậm chí ảm đạm hơn. Sự trầm lắng có thể thấy ở đền Bà Kiệu, đền Vũ Thạch - những không gian thờ tự đã có sự chất chồng nhiều lớp tín ngưỡng mà thờ Mẫu đóng vai trò là hạt nhân quy tụ các vỉa tầng văn hoá khác. Hoặc có khi là một màu ảm đạm như đền Bà Móc - vốn là một ngôi đền thờ Mẫu lớn ở Hà Nội, sau trận bom năm 1966 nay chỉ còn lại một gian thờ nhỏ dưới bóng cây si um tùm bên một khoảng sân hẹp, ẩm thấp của một khu dân cư trong con ngõ nhỏ chỉ một người đi ở phố Nguyễn Thiếp.

Như vậy, trong không gian thành (trung tâm chính trị), Hà Nội hiện diện các di tích “trấn”, trong không gian thị (trung tâm thương mại), Hà Nội có các di tích thờ Mẫu và trong không gian của các ngôi làng trong phố, Hà Nội có các đình thờ tổ nghề. Các loại hình di tích đặc trưng này đã tạo nên một Hà Nội thâm trầm, đa sắc với những lớp đắp bồi của thời gian, mà ở đó, bản sắc Hà Nội từng bước được kiến tạo và định hình.

Các loại hình nghệ thuật dân gian và thú chơi tao nhã của người Hà Nội

Là nơi mật tập dân cư từ nhiều thế kỷ, lại là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu sôi nổi suốt hàng nghìn năm, người Hà Nội đã sáng tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như múa rối nước, chèo bên cạnh các loại hình nghệ thuật dân gian mang đậm chất bác học như hát văn, tuồng, ca trù, tranh dân gian Hàng Trống. Hà Nội cũng là nơi thu hút vào mình nhiều loại hình nghệ thuật dân gian ở nhiều địa phương khác rồi biến thành nghệ thuật tiêu biểu của Thủ đô như hát xẩm, múa rối nước, hát trống quân, hát chèo tàu… Các loại hình nghệ thuật dân gian này được trình diễn trong các không gian đặc định, thể hiện thú chơi tao nhã, mỹ cảm tinh tế và những ước vọng giản dị mà thanh cao của người Hà Nội qua thời gian, vừa kiến tạo vừa đắp bồi, vừa sáng tạo để làm nên một cốt cách Hà Nội tao nhã mà đời thường, thâm trầm mà tươi mới, sâu sắc mà giản dị bền bỉ với thời gian.

img_9061.jpg
Một tiết mục biểu diễn của các nghệ sĩ trong lễ khai mạc Ngày thơ Hà Nội 2024.

Từ cốt cách đa chiều cạnh này, có thể nói, văn hóa dân gian không chỉ là quá khứ của Hà Nội, mà còn hiện hữu tươi mới trong không gian văn hóa đương đại, vừa với tư cách là gốc rễ vừa với tư cách là ngọn cành làm nên bản sắc văn hóa Thủ đô. Người Hà Nội, dù đến từ muôn nơi, đã được thẩm thấu bản sắc văn hóa Thủ đô nên mang trong mình sự dung hòa giữa tính cộng đồng của làng xã và tính kỷ cương của đô thị; giữa sự mộc mạc dân gian và sự tinh tế của văn hóa kinh kỳ. Chính sự chắt lọc các giá trị của văn hóa dân gian truyền thống qua thời gian và sự tiếp nhận tinh hoa của các nền văn hóa khác qua giao lưu đã làm nên một bản sắc văn hóa Hà Nội hôm nay.

mua-bong.jpg
Điệu múa bồng làng Triều Khúc

Không biết có phải thế không mà câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” đã ở đó trong hành trang tinh thần của người Hà Nội và người Việt Nam khi nghĩ về bản sắc của văn hóa Thủ đô.
...............................................................

(1): Trần Quốc Vượng & Vũ Tuấn Sán, “Hà Nội nghìn xưa”, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, Tr.170
(2): Nguyễn Thừa Hỷ (1983), “Phố phường Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII-XVIII-XIX”, Nghiên cứu Lịch sử, số 4, tr.: 46-51

PGS.TS Trần Thị An