Văn học - Nghệ thuật

Có một xóm văn Thành Công - chuyện bây giờ mới kể

Nhà văn Bùi Việt Thắng 07:05 25/02/2026

Phải nói ngay để bạn đọc không phân vân về cách nói/ viết hay gọi thân mật “Xóm văn Thành Công”. Số là, người viết bài báo này từng có một giai đoạn dài (1983-2007) sống tại phòng 303, nhà E9, khu tập thể Thành Công, quận Ba Đình (cũ), Hà Nội. Khu tập thể này hình thành cuối những năm 70, đầu những năm 80 thế kỷ XX. Nó thuộc địa giới làng Thành Công cổ xưa, nơi có đình làng Thành Công - di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố. Chuyện “Xóm văn Thành Công” gắn với quy luật “đất lành chim đậu”.

nha-a1-tap-the-thanh-cong-ky-hoa-cua-tran-thi-thanh-thuy.jpg
Nhà A1 Tập thể Thành Công - Ký họa của Trần Thị Thanh Thủy

Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 và đến cuối thế kỷ trước, “Xóm văn Thành Công” hội tụ nhiều nhà văn từ khắp nơi về đây: Nguyễn Hà (1932-1999), Ma Văn Kháng (1936), Vân Thanh (1936), Phong Lê (1938), Bằng Việt (1941), Vương Trí Nhàn (1942), Phan Thị Thanh Nhàn (1943), Ý Nhi (1944), Bùi Việt Sỹ (1946), Tôn Phương Lan (1950), Bùi Việt Thắng (1951), Trần Đức Cường (1952), Ngô Vĩnh Bình (1953-2025), Thu Trang (1953), Hà Văn Thể (1958). Nếu tinh chi li ra thì đội hình nghiên cứu - lý luận - phê bình đông đảo hơn cả (vợ chồng Vân Thanh - Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Tôn Phương Lan, Bùi Việt Thắng, Ngô Vĩnh Bình); có 6 nhà thơ (Nguyễn Hà, Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Hà Văn Thể, Trần Đức Cường), 3 nhà văn chuyên viết văn xuôi (Ma Văn Kháng, Bùi Việt Sỹ, Thu Trang).

Trong số 15 văn nhân kể trên, thi sĩ Bằng Việt là “quan văn” và quan chức to nhất (từng làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hội VHNT Hà Nội); Giáo sư Phong Lê nguyên là Viện trưởng Viện Văn học; nhà văn Ma Văn Kháng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT; các nhà văn nhận Giải thưởng Nhà nước về KH&CN, VHNT (Phong Lê, Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn); nhà văn Bùi Việt Sỹ là người “sát” giải thưởng các cuộc thi tiểu thuyết; “hoa hậu” của “Xóm văn Thành Công” là nữ sĩ Tôn Phương Lan; 2 nhà văn công an là Thu Trang và Hà Văn Thể; 2 nhà văn từng giữ chức Tổng Biên tập là Ma Văn Kháng (NXB Lao động) và Ngô Vĩnh Bình (Tạp chí Văn nghệ Quân đội; 3 nhà văn từng khoác áo lính là Bằng Việt, Ngô Vĩnh Bình, Trần Đức Cường.

“Xóm văn Thành Công” đa dạng, giàu nội lực, không có chế tài, cương lĩnh hay điều lệ, tuyên ngôn nào, nhưng đây là một đơn vị (sinh thể) văn chương từ tự phát đến tự giác. Giao lưu nghề nghiệp diễn ra theo các tuyến: sáng tác, nghiên cứu - lý luận - phê bình; lứa tuổi, khẩu khí, cá tính… hay chỉ là những đồng điệu cá nhân với nhau tùy thích.

Cái hay của “Xóm văn Thành Công” là người làm nghiên cứu - lý luận - phê bình “chơi” được với dân sáng tác theo tinh thần liên tài; nó xóa bỏ quan niệm cực đoan coi hai lực lượng này như mặt trăng - mặt trời. Về ở khu tập thể Thành Công vào đầu năm 1983, từ đó tôi quen biết và có ý “đeo bám” nhà văn Ma Văn Kháng - người mà tôi cảm nhận sẽ là một tên tuổi chói sáng trên văn đàn. Có thể nói nhà văn Ma Văn Kháng là “nhân vật trung tâm” của “Xóm văn Thành Công”. Sau khi chuyển từ Lào Cai về Hà Nội (từ 1977), thời kỳ sáng tác sung mãn của ông bộc lộ với những tiểu thuyết có tiếng vang như “Mùa lá rụng trong vườn” (1988), “Đám cưới không có giấy giá thú” (1989)… Mỗi khi ra sách mới, nhà văn đều chia sẻ với đồng nghiệp xóm văn (khi thì mời đến nhà đàm đạo quanh ấm trà Thái đặc sản tuyển chọn, khi thì ở một không gian nhỏ nào đó tràn đầy không khí văn chương). Ông quan tâm và bảo vệ bạn văn và tác phẩm khi thấy rõ chính nghĩa, như vụ tiểu thuyết “Người đưa đường thọt chân” (1990) của Bùi Việt Sỹ bị gán lỗi là văn chương ám chỉ?! Nhà văn Ma Văn Kháng thường thể hiện quan điểm rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật: “tâm ta sáng, lòng ta trung thì không sợ quanh co lắt léo, hàm oan”.

Trong hơn 20 năm làm biên tập viên, sau đó là Phó Giám đốc, Tổng biên tập NXB Lao động, ông thực sự là bà đỡ mát tay cho nhiều tác giả, tác phẩm. Nhân đây cũng cần ghi nhận mối quan tâm đặc biệt của GS. Phong Lê với nhà văn Ma Văn Kháng, không chỉ bởi “cùng một lứa bên trời lận đận” mà là bởi một khối tình với văn chương và người nghệ sĩ ngôn từ.

“Xóm văn Thành Công” có tinh thần cố kết, nâng đỡ nhau trong nghề chữ. Nhà văn Ngô Vĩnh Bình khi làm TBT Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã thường xuyên động viên, mời gọi các nhà văn trong “Xóm văn Thành Công” viết bài. Ông thường bỏ tiền túi ra mua tạp chí tặng đồng nghiệp, đôi khi có cả số Tết. Nhà văn Phong Lê thời làm TBT Tạp chí Văn học, Viện trưởng Viện Văn học hay quan tâm thông báo các sự kiện văn học và hội thảo khoa học của Viện, tạo điều kiện cho các thành viên “Xóm văn Thành Công” tham gia. Nhà thơ Bằng Việt tuy có độ làm quan văn, quan chức nhưng phong thái hòa đồng, thích giao lưu với đồng nghiệp xóm văn. Đặc biệt, cuộc bia hơi nào do nhóm sáng kiến khi ai đó ra sách mới (gọi là tân sách) thì ông đều hồ hởi tham gia trong vai bình dân thứ thiệt, chan hòa.

Tôi là người thường đóng vai liên lạc viên của “Xóm văn Thành Công” mặc dù không được giao nhiệm vụ, chỉ từ nhiệt tình với văn hữu. Tôi thường xuyên kết nối với các nhà văn trong “xóm” do công việc chuyên môn để trải nghiệm nghề, cố gắng sống với văn chương cùng thời. Không chỉ làm liên lạc cho xóm văn, tôi còn cố gắng đọc văn của đồng nghiệp và viết về sáng tác của họ (từ Ma Văn Kháng, Bằng Việt, Vương Trí Nhàn, Bùi Việt Sỹ đến Tôn Phương Lan, Ngô Vĩnh Bình, Trần Đức Cường, Thu Trang).

Trong “Xóm văn Thành Công” có 5 nhà văn nữ (Vân Thanh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Tôn Phương Lan, Thu Trang), bạn bè văn chương thường gọi vui là “năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Mỗi người một vẻ. Hoạt náo nhất là “U Nhàn” (Phan Thị Thanh Nhàn). Nhà thơ Ý Nhi thì kín tiếng hơn, ít xuất hiện trước công chúng. Bà chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc tại Chi nhánh NXB Hội Nhà văn vào cuối những năm 80 thế kỷ trước.
Đến nay thì không còn “Xóm văn Thành Công” nữa bởi không còn thành viên nào của “xóm văn” trụ lại nơi đây. Chuyện hợp - tan là lẽ thường tình, cũng như vui buồn đời người vậy. Dân gian có câu “quan thì xa, bản nha thì gần”. Ngụ ý suy ra là Hội Nhà văn Việt Nam, kể cả Hội Nhà văn Hà Nội thì xa nhưng những “xóm văn” kiểu này lại gần gũi, chia sẻ, thấu hiểu và thấu cảm nhau hơn. Âu cũng là một mô hình sinh hoạt văn chương hiệu quả và thú vị. Năm hết Tết đến, ăn cơm mới nói chuyện cũ để cùng nhau vui theo tinh thần “ôn cố tri tân”. Mỗi lần trở về “Xóm văn Thành Công” (căn hộ ngày trước đã từng ở, sau này cho thuê), tôi vẫn mang theo nỗi niềm cố hương. Bao giờ cho đến ngày xưa?!

Nhà văn Bùi Việt Thắng