Văn hóa – Di sản

Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng

GS.TS Kiều Thu Hoạch 20:28 21/02/2026

Sự kiện Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng lâu nay vẫn là hai mảng đề tài đặt ra những câu hỏi không dễ giải đáp. Chẳng hạn, giặc Ân là có thật hay chỉ là truyền thuyết? Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn cho rằng việc phát hiện một loại nha chương bằng ngọc khuê/đá quý trong quá trình khai quật tại di chỉ văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam (khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên) giống hệt loại nha chương đã tìm được trong một số di chỉ có niên đại Ân - Thượng ở Trung Quốc cho thấy chắc chắn giặc Ân đến từ phương Bắc.

Huyền thoại Thánh Gióng đã nói đến roi sắt, ngựa sắt cũng là điều có thực trong lịch sử. Nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn cho biết, chúng ta đã tìm thấy những chứng tích xác thực của nghề đúc sắt ở Việt Nam, trước khi văn hóa Trung Quốc xâm nhập. (Nguồn: GS. Hà Văn Tấn, Sự hình thành Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2017, tr. 12–13).

hoi-giong-duoc-xem-nhu-mot-nghi-thuc-sung-bai-anh-hung-dan-toc-thanh-giong..jpg
Hội Gióng được xem như một nghi thức sùng bái anh hùng dân tộc Thánh Gióng.

Hội Gióng có trò diễn của phường Ải Lao hay phường Tùng Choạc. Vậy thì Ải Lao là gì? Có hai thuyết khác nhau: Thứ nhất, do nước Ai Lao (nước Lào nay) cung cấp phường múa hằng năm cho nhà Lý trong thời kỳ vương quyền. Ai Lao hàng phục triều Lý nên phường ca múa ấy lấy tên là phường Ải Lao. Thứ hai, Ải Lao là từ Hán, có nghĩa là buộc trâu bò, nhắc lại tình tiết: đoàn trẻ vội vàng buộc trâu bò, theo ông Gióng đi đánh giặc. Sau khi Gióng lên trời, bà mẹ Gióng buồn, nên đoàn trẻ chăn trâu đến múa hát cho bà vui. Do đó mà có tên gọi phường múa hát Ải Lao. Phường Ải Lao còn gọi phường Tùng Choạc/Choặc, hoặc chỉ là bắt chước âm thanh gõ trống để múa hát.

Trở lại với câu chuyện Thánh Gióng, theo huyền tích dân gian xưa, vào thời Hùng Vương thứ sáu, vua nhà Ân mượn cớ đi tuần thú đã sang xâm lược nước Nam ta. Vua Hùng bèn theo lời truyền bảo của Long Quân sai sứ đi rao khắp trong nước để cầu người tài.

Bấy giờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là Kẻ Gióng có một nhà nọ, hai vợ chồng đã luống tuổi mới sinh được đứa con trai, đã lên ba tuổi mà không biết nói. Khi sứ giả đến nơi, người mẹ nói bỡn con rằng: “Đẻ được chút con trai, chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không được thì đánh thế nào được giặc mà lĩnh thưởng”.

Người con nghe vậy bỗng bật dậy, bảo mẹ gọi sứ giả vào. Khi sứ giả đến nhà, cậu bé nói với sứ giả về tâu với vua: “Đúc cho ta một con ngựa sắt cao 18 thước, một thanh gươm sắt dài 7 thước và một cái nón sắt. Giặc trông thấy ta ắt phải sợ mà bỏ chạy, vua can gì phải lo”.

Sứ giả về tâu, vua mừng rỡ, lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, gươm sắt đem đến cho cậu bé. Khi sứ giả đến giao ngựa, gươm và nón sắt, cậu bé bỗng vươn vai đứng dậy, cao hơn hai trượng, rồi rút kiếm cầm trên tay, miệng nói như sấm: “Ta là tướng nhà Trời đây!”
Bấy giờ giặc bày trận ở chân núi Trâu Sơn. Cậu bé Kẻ Gióng đánh giặc hồi lâu thì gãy đôi thanh kiếm, bèn xuống ngựa, nhổ cụm tre bên đường quật vào lũ giặc. Giặc chạy như đất lở ngói tan, lạy phục xin hàng. Khi đánh đến núi Sóc thì giặc tan hết cả, cậu bé Gióng mới cởi áo để lại rồi cưỡi ngựa sắt bay lên trời. Vua không biết lấy gì đền đáp, mới phong cậu bé làm Phù Đổng Thiên Vương.

Quy luật của thể loại truyền thuyết/ huyền thoại là sẽ đi tới sự phát triển của lễ hội/ hội lề để tái hiện hình tượng của các nhân vật anh hùng dân tộc. Chẳng hạn như sử ca Nôm thế kỷ XVII “Thiên Nam ngữ lục” đã ghi rõ về hội Gióng:

Tháng Tư mồng Tám rày còn
Hội lễ trả nghĩa nước non đời đời.

Hội Gióng cũng xem như một nghi thức sùng bái anh hùng dân tộc là Thánh Gióng trên một quy mô địa lý rộng lớn hơn. Đây chính là sự chuyển hóa từ nghệ thuật truyện kể sang nghệ thuật diễn xướng.

Ai ơi mồng chín tháng Tư.

Không đi Hội Gióng cũng hư mất đời.

Căn cứ vào những kỳ mở hội, chúng ta có thể mô tả và nhận định lễ hội trên những nét lớn. Tham khảo và đối chiếu một số tài liệu khác nhau có thể khái quát trình tự tổ chức Hội Gióng như sau:

Bốn làng là Phù Đổng, Phù Dực, Đồng Viên và Đồng Xuyên cùng thay nhau tổ chức Hội Gióng gồm các tiết mục như: Hiệu cờ, hiệu chiêng, hiệu trống, hiệu trung quân.

tai-hien-ngua-giong-ve-troi.jpg
Tái hiện Ngựa Gióng về trời.

Những người đóng vai tướng của ông Gióng được che hai lọng. Trừ hiệu cờ tượng trưng cho uy lực của Gióng trong chiến trận thì được che bốn lọng. Quân của Gióng ăn mặc giống như tượng người đắp ở đền thờ Lý Bát Đế ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh): mình trần, đóng khố đen.

Tham gia Hội Gióng còn có phường hát múa Ải Lao (phường Tùng Choạc) gồm có 20 người là trai trẻ do các giáp làng Hội Xá hằng năm thay nhau cử ra tế thần và góp vui cho Hội Gióng.

Điều đáng chú ý trong lễ hội Gióng là rất nhiều sự việc được mô tả theo các tình tiết của truyền thuyết. Chẳng hạn, tình tiết người cầm cung nỏ vốn là tượng trưng cho người đi săn; người cầm cần câu là tượng trưng cho người câu cá…

Một hiện tượng thú vị của Hội Gióng nhiều trò diễn trong lễ hội vẫn được những người biểu diễn và dân làng tôn kính như một biểu tượng có thật. Ở đình Hội Xá, cứ vào đầu tháng Ba âm lịch, giáp nào được cử lập phường múa hổ thì đến đình làng lấy đầu hổ và làm thêm lốt hổ để hóa trang. Lốt hổ là một cái áo dài chẽn, màu vàng có vẽ vằn đen, có cả đuôi như hổ thật. Khi hội kết thúc, lốt hổ bị đốt, còn đầu hổ vẫn giữ nguyên để thờ như một vị thần linh.

Các diễn viên tham gia múa hổ mặc trang phục nghi lễ, thực hiện hai điệu múa truyền thống là cung thần và vây bắt hổ. Khi múa kèm theo hát gồm 12 bài hát nghi lễ, tạo nên một chỉnh thể diễn xướng mang đậm màu sắc linh thiêng.

Về múa hổ trong ngày hội thì các diễn viên phải mặc áo chẽn, đầu chít khăn đen, đi chân trần, thắt lưng xanh có nút bên sườn trái. Họ múa hai điệu múa truyền thống, một điệu cung thần và một điệu múa vây bắt hổ, kèm theo hát.

Những người tham gia biểu diễn trong lễ hội đều phải tuân thủ nghiêm ngặt tục “trai giới” từ đầu tháng Ba âm lịch. Riêng vai hiệu cờ phải sinh hoạt biệt lập trong đền, ăn ngủ một mình, có người phục dịch chu đáo.

ong-hieu-co-hoi-giong-anh-dang-thanh-tung.jpg
Ông hiệu cờ Hội Gióng - Ảnh Đặng Thanh Tùng

Đến ngày rằm tháng Ba âm lịch, nghi lễ rước bình hương lên đền và lễ trình diễn các tướng (hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng) được tổ chức. Sau đó, thủ từ trao cho giáp hội trưởng cờ, trống, chiêng để những người có nhiệm vụ mang về nhà tập luyện biểu diễn.

Từ rằm tháng Ba âm lịch trở đi, mọi bộ phận đều phải tập diễn cho thành thạo. Các vai diễn giặc Ân từ phương Bắc được tượng trưng bằng những tướng nữ, tuyển chọn trong gái hàng tổng từ 10 đến 13 tuổi. Trừ giáp kéo hội, mỗi giáp còn lại cử 2 cô, tổng cộng 28 tướng. Trong số đó, chọn ra hai thống soái, gọi là Thống Đốc chánh soái và Thống Ngựa phó soái. Các tướng đều ăn mặc lộng lẫy, đội mũ thêu hoa, quấn vòng xuyến vàng bạc.

Hội chính bắt đầu từ mồng 6 tháng Tư âm lịch. Từ giờ Dậu (khoảng chiều tối), nghi lễ rước nước được tổ chức. Toàn bộ quân tướng đều tham dự đám rước từ đền Thượng đến giếng đền Mẫu để lấy nước rửa khí giới. Nước giếng được cho vào chum rồi chở về đền Thượng. Phường Ải Lao đi trước dẫn đường. Lễ rước nước được coi như lễ cầu mưa cho cây cối tốt tươi, mùa màng thuận lợi.

Sáng mồng 7 tháng Tư âm lịch, cỗ chay (chủ yếu là cơm với cà) được rước từ đền Mẫu đến đền Thượng, tiếp đó là lễ tế Thánh Gióng trong tiếng hát điệu nhạc của phường Ải Lao. Đến trưa, múa rối nước được tổ chức ở hồ trước cổng đền Thượng. Ban đêm có tục trai gái đuổi bắt nhau trên bãi sông và có các đám diễn chèo tuồng thu hút đông đảo dân làng đến xem.

Đến mồng 9 tháng Tư âm lịch là ngày hội chính, vào buổi sáng lễ rước cờ được tổ chức từ đền Mẫu đến đền Thượng với nhiều nghi thức diễn xuất các bước chân khá phức tạp. Các vai diễn khi xòe chân chữ bát, lúc thì chắp tay trước ngực mà tiến bước về phía trước cho đến gần bàn thờ Thánh Gióng. Các lão làng giải thích đó chính là những động tác quân sự cách điệu hóa, không phải là lễ cúng bình thường.

Sau đó, phường múa hát Ải Lao diễn trò săn hổ trước điện thần. Có 12 người cầm cờ lau, cung tên, cần câu cùng diễn tả các động tác tay chân theo nhịp trống chiêng. Khi ba tiếng trống nổi lên báo dứt lễ, các phường diễn trò “vây bắt hổ”. Họ hát 6 lần câu mở đầu:

Lập đồn đắp lũy xây thành
Bên ngoài trống điểm tuần hành bên trong

Sau khi cả phường hát múa kết thúc, ông trùm đứng dậy nói: “Chiềng hàng đội, đồn đây có ông hổ lang. Ai là nhân tài ra bắt, chúa hội sẽ ban thưởng”. Ngay sau đó, vai diễn hổ nhảy ra, thực hiện nhiều động tác múa đẹp mắt. Đồng thời người cầm cung và người cầm cần câu làm những động tác khoa trương và hát đối thoại. Lời hát đi kèm các động tác vỗ ngực, xắn tay áo, làm tăng thêm khí thế diễn xướng.

Tiếp đó, người bắt hổ nhảy vờn với hổ và hát múa trong tiếng chiêng trống vui nhộn. Người cầm cung vờ giương cung bắn hổ. Hổ cũng vờ bị thương lăn đùng ra đất; hai người lập tức nhảy vào vờ bắt trói. Cuối cùng, tất cả đám người đều làm lễ trước bàn thờ Thánh Gióng.

Cùng trong khoảng thời gian đó, ở cuối làng Đồng Viên, bên bãi Đống Đám, 28 tướng nữ đã trực sẵn trên 28 chiếc kiệu. Tiếp đến, đội quân thám báo chạy về đưa tin có giặc vây đóng ở Đống Đàm (tức Vũ Ninh trong truyền thuyết). Thế là trống chiêng nổi lên ba hồi liền. Trong giờ phút nghiêm trọng đó, phường Ải Lao vừa múa vừa hát ca ngợi ông Gióng:

Thứ sáu đời vua Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng, tướng cường nữ nhung…

Tiếng hát vừa dứt, ba hồi trống chiêng lại nổi lên, tiếp đó, hàng loạt người “dạ” vang ran. Toàn quân cả trăm người nhắm phía Đồng Đàm tiến bước rầm rập ra chiến trường, tạo nên cảnh tượng thật náo nhiệt trên bờ đê dài ba cây số.

Chiến trường được dựng rất đơn giản chỉ mang tính tượng trưng. Giữa hai bờ đê có hồ sen - nơi quân địch đóng giữ. Gần hồ trải ba chiếc chiếu, trên úp 3 cái bát tượng trưng núi non, chiếu tượng trưng đồng bằng. Gần đó có bãi đất phẳng đặt bàn thờ Thánh Gióng. Đám rước còn kéo theo cả con ngựa trắng bằng gỗ tới đặt cạnh bàn thờ. Các tướng của ông Gióng đều đứng trên chiếu trong tư thế sẵn sàng.

Khoảng giờ Dậu (tức 5 - 7 giờ chiều), tiếng pháo nổ râm ran, tiếng quân ta và quân địch reo hò ầm ĩ. Hiệu cờ giương lá cờ lệnh, hất chân theo từ trái qua phải. Cờ cứ thế phất lên qua trái, qua phải, lên cao, hạ xuống, chuyển động liên tục như múa. Quân ta nhảy lên reo hò mừng chiến công, trống chiêng phường Ải Lao lại hát múa rộn ràng. Điệu múa cờ vừa kết thúc thì các tướng giặc Ân cũng cho quay kiệu chạy về phía Phù Đổng, biểu thị cảnh quân địch tan rã thua chạy. Tất cả đám hội lại reo hò ầm ĩ cùng với tiếng chiêng trống rầm trời.

Rồi đến tiếp đó, hàng tổng khao quân. Nhưng bên giặc chưa chịu thua hẳn, lại bày trận bao vòng vây quân ta. Quân ta lập tức phá vòng vây, cuộc chiến xảy ra ác liệt. Hiệu cờ lại nhảy ra múa trên chiếu từ trái qua phải, ngược với lần trước, nhân dân gọi là “Ba ván nghịch”. Múa xong ba ván thì hiệu chiêng trống lại đánh ba hồi báo tin quân ta thắng lợi hoàn toàn. Các tướng của giặc Ân coi như bại trận, nhảy xuống kiệu. Hai tướng Đốc – tướng Ngựa của giặc bị giải bộ về đền thờ, bắt chúng quỳ xuống, nộp kiếm lạy 4 lạy và 2 vái trước bàn thờ Ông Gióng. Bên ta còn dùng kiếm hất mũ và phanh áo của hai tướng giặc ngụ ý chém đầu và phanh thây giặc. Sau đó, phường Ải Lao lại múa hát với âm hưởng trống chiêng tưng bừng. Tiệc khao quân tiếp tục vào lúc trời tối cùng với các trò vui diễn ra trong đêm.

Sau thắng trận, ngày 11 tháng Tư âm lịch có lễ rửa hội. Người làng rước nước về đền rửa khí giới. Rồi tiếp đó lại tiếp tục các trò chơi, múa hát vui nhộn. Cuối cùng, quân ta soát lại chiến trường, chiều đến làm lễ tế mừng thắng trận và làm lễ “Hạ hội” (kết thúc hội).
Năm Bính Ngọ, theo âm lịch là năm Ngọ - năm con Ngựa. Nhắc lại truyền thuyết và lễ hội Thánh Gióng, tôi lại nhớ đến những câu thơ của Tố Hữu trong bài “Gió lộng”:

“Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khỏe như ngựa sắt
Chí căm thù rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi…”

Hi vọng Xuân Bính Ngọ 2026 sẽ là năm ngựa sắt phi nước đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ta./.

GS.TS Kiều Thu Hoạch