Hà Nội xưa - nay

Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến 08:41 14/02/2026

Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.

Hồ Mã Cảnh tương ứng với phố Hàng Than ngày nay, thời nhà Lý gọi là Mã Cảnh vì hồ có hình con ngựa. Đầu thế kỷ XX, Hà Nội xuất hiện một trường đua ngựa tại vị trí Khu thể thao Quần Ngựa trên phố Văn Cao ngày nay.

mot-tran-dua-ngua-o-ha-noi-xua..jpg
Một trận đua ngựa ở Hà Nội xưa.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép xa xưa, Hà Nội đã có ngựa. Địa danh Kim Mã là trại ngựa có từ thời Lý - Trần, những con ngựa này để các quan cưỡi khi đi công vụ, cho lính các trạm dịch cưỡi chuyển lệnh dụ từ triều đình về địa phương và chuyển bản trình tấu của các quan địa phương về triều đình. Khi Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, nhà Trần đánh quân Nguyên Mông, ngựa được dùng để thồ lương thực cho binh lính. Nhưng ngựa dùng kéo xe chở hàng và khách có từ khi nào thì không thấy sử sách chép.

Trong bài “Thu dịch” bằng chữ Hán của Hương cống Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), có câu: “Xa mã đồ trung tận nhật lôi” (Trên đường suốt ngày xe ngựa chạy như sấm). Còn trong bài “Thăng Long thành hoài cổ”, hình ảnh xe ngựa hiện lên qua câu thơ đượm buồn của Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848): “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Hai câu thơ này cho biết, muộn nhất từ thời Lê trung hưng, ngựa đã xuất hiện trong đời sống của kinh đô Thăng Long. Vì xe ngựa ở Thăng Long - Hà Nội rất nhiều và hoạt động từ sáng đến tối nên hình thành những người chuyên bán cỏ cho ngựa. Họ tụ họp ở khu vực ga Hà Nội ngày nay. Vị trí này thời Nguyễn vốn là quân doanh. Ga chính thức có tên “Ga trung tâm Hà Nội” nhưng vì từng là nơi bán cỏ (Hàng Cỏ) nên người Hà Nội gọi nôm là ga Hàng Cỏ.

Trong một bức ảnh chụp vào khoảng năm 1886 còn lưu lại đến nay, Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hợp cưỡi một con ngựa nhỏ như ông. Trước đó, triều vua Tự Đức, phương tiện công vụ của các quan huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận (tỉnh Hà Nội) là võng, kiệu và ngựa. Với thị dân, phương tiện giao thông là cáng (hai người khiêng), xe đẩy (còn gọi là xe rùa, có ba bánh) và đặc biệt là xe ngựa. Xe ngựa có thùng, hai bánh bằng gỗ, chở được 4 người. Thời điểm thực dân Pháp chiếm Hà Nội, các sĩ quan Pháp dùng ngựa để cưỡi khi di chuyển trong thành phố. Để vận chuyển hàng hóa, lương thực và vũ khí từ cảng Đồn Thủy vào trong thành, năm 1883, quân đội Pháp cho làm đường ray từ khu vực cảng này (tương ứng với Bệnh viện 108 hiện nay) chạy dọc phố Tràng Tiền và Tràng Thi qua Cửa Nam vào thành. Họ chất hàng hóa lên các toa có bánh sắt rồi dùng ngựa kéo, giúp việc vận chuyển nhanh và thuận tiện hơn. Nhu cầu dùng ngựa trong quân đội Pháp ngày càng tăng, vì thế họ tuyển lính thợ người Việt, dạy cho lính thợ này cách đóng yên bằng da, đóng móng sắt. Mãn hạn lính, một số người thạo nghề mở cửa hàng đóng yên ở phố Hàng Trống, sau đó chuyển về phố Hà Trung.
Để việc đi lại của công dân, nhân viên Pháp ở các công sở trên địa bàn thành phố được thuận lợi, đồng thời để người Pháp tham quan Nhà thờ Lớn bắt đầu xây dựng, cuối năm 1883, Công sứ Hà Nội Bonnal đã cho mở xe ngựa công cộng. Thùng xe đóng rộng hơn, chở được 6 người vì do hai ngựa kéo; bánh xe bọc thép tăng độ bền và an toàn. Tuyến xe ngựa công cộng đầu tiên bắt đầu từ khu Đồn Thủy chạy qua phố Tràng Tiền đến phố Nhà Chung. Vì đường phố Nhà Chung đang cải tạo nên xe đi một chiều. Vì giống ngựa Việt nhỏ và bé, không kéo được nặng nên quân đội Pháp nhập thêm giống ngựa to khỏe từ Tunisia, Ấn Độ.

kinh-luoc-bac-ky-nguyen-trong-hop-cuoi-ngua..jpg
Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hợp cưỡi ngựa. (Ảnh tư liệu)

Đua ngựa là môn thể thao truyền thống của nước Pháp nên khi xâm chiếm Việt Nam, họ du nhập môn này để phục vụ người Pháp. Trường đua được xây dựng ở Sài Gòn và cuộc đua đầu tiên diễn ra năm 1864. Tại Hà Nội, cuộc đua ngựa đầu tiên tổ chức ngày 15/7/1886. Chương trình hôm ấy có hai cuộc đua ngựa và một cuộc đua “người ngựa” dành cho tất cả các hạng tuổi. “Người ngựa” là người kéo xe tay. Vì cuộc đua thu hút đông người xem nên chính quyền cho sửa sang, làm đường đua trong Thành. Khán đài nằm trên sân tầng thứ nhất của Cột Cờ. Trường đua khánh thành ngày 27/3/1887. Nhưng đua ngựa trong thành diễn ra vài năm thì bị dẹp bỏ.

Để đáp ứng nhu cầu giải trí và cá cược cho người Pháp sống ở Bắc Kỳ, năm 1889, Hội Đua ngựa Hà Nội đề nghị Thống sứ Bắc Kỳ cấp khu đất nằm dọc theo đường Boulevard Gambetta (nay là Cung Văn hóa Hữu nghị, phố Trần Hưng Đạo). Năm 1890, việc xây dựng khán đài hoàn thành (nghiệm thu ngày 7/10/1890). Khán đài chia làm 3 phần: bên phải và bên trái dành cho công chúng, chia thành 9 hàng, sức chứa khoảng 70 người. Khu vực trung tâm sử dụng làm khán đài danh dự, lát gạch vuông, có chỗ cho khoảng 20 người. Ngày 31/1/1894, nhân dịp tàu Zabiaca của Nga ghé thăm Hà Nội, một cuộc đua ngựa tổ chức long trọng để chiêu đãi các sĩ quan Nga. Năm 1899, trường đua bị phá bỏ để lấy đất xây nhà triển lãm nên trường đua dời về khu vực đường Văn Cao hiện nay, gọi là Quần Ngựa.

Chiều dài trường đua là 500m, rộng 200m. Ngoài ra, còn có khu đất 10.000m² ở phía Tây làm khán đài và bãi quây ngựa. Trường đua có các công trình phụ trợ gồm: tàu ngựa, nhà vệ sinh, ki-ốt âm nhạc và quầy rượu. Năm 1900, trường đua tiếp tục mở rộng về phía các làng Ngọc Hà, Vĩnh Phúc và Kim Mã. Khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất, trường đua thưa thớt và xập xệ, rơi vào tình trạng tồi tàn; các công trình xây dựng trở nên hoang phế khiến chính quyền Bảo hộ phải cho cải tạo lại.

xe-ngua-mot-thoi-la-phuong-tien-chinh-cho-luong-thuc-va-vu-khi-cua-quan-doi-thuc-dan-phap..jpg
Xe ngựa một thời là phương tiện chính chở lương thực và vũ khí của quân đội thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu)

Đầu thế kỷ XX, dù thành phố đã xuất hiện tàu điện, xe kéo tay nhưng ngựa vẫn được dùng để kéo xe chở khách. Một số người dự đoán số phận của xe ngựa nội đô sẽ chuyển sang phục vụ xe tang và xe cưới. Xe cưới là song mã, ghế bọc da trắng, trang trí hoa và dây băng nhiều màu. Chỉ cô dâu, chú rể ngồi trên xe song mã, theo sau là đoàn xe ngựa thường hoặc xe kéo tay. Hai chú ngựa của xe cưới gắn chuông đồng; khi chạy phát ra âm thanh vui nhộn. Nghe tiếng leng keng, dân hàng phố biết có đám cưới. Năm 1934, Hà Nội xuất hiện dịch vụ ăn hỏi và đón dâu bằng ô tô. Nhiều gia đình khá giả chọn phương tiện mới này, tuy vậy đa phần vẫn dùng xe song mã.

Ngựa không chỉ kéo xe chở hàng, chở khách mà còn được huấn luyện để làm xiếc. Năm 1935, gánh xiếc Armstrong của Anh quốc sang Hà Nội biểu diễn, dựng rạp trước chợ Hàng Da. Gánh xiếc thu hút nhiều trẻ em vì có xiếc thú, diễn viên điều khiển sư tử, khỉ, gấu và cưỡi ngựa phi nước đại quanh sân khấu khiến lũ trẻ thích thú. Nhưng trong một suất diễn, một gã hề xúc phạm người Việt nên gánh bị tẩy chay. Trong cơn bĩ, để có tiền trả cho diễn viên về nước, chủ gánh xiếc đã bán xiếc thú cho chủ gánh xiếc Long Tiên là ông Tạ Duy Hiển. Ông mua lô đất rộng ở phố Quần Ngựa (nay là ngõ 32 Đội Cấn) để nuôi và huấn luyện thú làm xiếc trong đó có xiếc ngựa.
Xưa và nay có rất nhiều bài thơ về ngựa, nhưng hình ảnh con ngựa trong bài chữ Hán “Tô giang ẩm mã” (Ngựa uống nước bên sông Tô Lịch) của Đoàn Nguyễn Tuấn có lẽ là đẹp nhất. Bài thơ được ông viết sau khi quân Tây Sơn đánh thắng quân xâm lược nhà Thanh.

Sơn hà tráng nhĩ điện Nam bang,
Tô phái oanh hồi ẩm mã giang.
Túng hác ngư hà danh thức lịch,
Lâm lưu kỳ ký ảnh thành song.
Phạm Trọng Chánh dịch:
Non sông hùng tráng trấn giữ nước Nam,
Dòng sông Tô uốn quanh, là nơi ngựa
uống nước.
Tung tăng dưới khe, cá tôm thảy đều biết hết,
Cúi xuống uống nước, bóng ngựa Ký,
ngựa Kỳ một hóa thành đôi…

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến