Mốc son chói lọi trên chặng đường 96 năm vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam (Bài 2)
Sau khi ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Từ năm 1975 đến năm 1986
Sau giải phóng miền Nam, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội vừa chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân lao động.
Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm; việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã khuyết điểm chủ quan. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/9/1979 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) về “Phương hướng nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương”; Chỉ thị 100- CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định 25/QĐ-CP ngày 21/1/1981 của Chính phủ về đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa V (tháng 6/1985) thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng 8/1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình mới...
Từ năm 1986 đến nay
Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đến Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991), Đảng ta khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VIII đến nay tiếp tục khẳng định sự kiên định, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới không ngừng được bổ sung và phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện và cụ thể hóa toàn diện các định hướng đổi mới, phát triển, xác định rõ trọng tâm trong từng giai đoạn.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết Trung 4 khóa XII, XIII với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá giá đúng sự thật, gắn chặt phòng với chủ động tiến công để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; Quốc hội không ngừng bổ sung, hoàn thiện, thể chế hóa Hiến pháp, hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý ngày càng đồng bộ, phù hợp cho quá trình đổi mới; lãnh đạo Chính phủ cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và giải pháp quản lý, quản trị phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sau 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; với ý chí độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng xây dựng và phát triển đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, lợi ích quốc gia dân tộc được bảo đảm.

Riêng năm 2025, trong khi nhiều quốc gia chống suy thoái, kinh tế Việt Nam đã bứt phá ngoạn mục, cả năm ước đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức vào nhóm thu nhập trung bình cao; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm ước đạt hơn 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và khẳng định vững chắc vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD).
Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334.000 căn nhà; hoàn thành mục tiêu xây dựng hơn 102 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2025, bảo đảm “an cư lạc nghiệp”, mang lại hạnh phúc cho người dân; hạ tầng tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…); hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020 (xếp thứ 83). Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016.
Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Qua đó, tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao giá trị chiến lược và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

Tại Hội nghị lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thống nhất đánh giá: Lịch sử gần 100 năm Đảng cộng sản Việt Nam Lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại.
40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc của Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Qua đó chúng ta đã đúc kết được những bài học quý báu mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp Cách mạng của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới./.
(Còn nữa...)