Thông qua đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô:Xây chắc nền tảng, bồi đắp động lực để Hà Nội vươn mình mạnh mẽ
Tại kỳ họp thứ 31 ngày 27/1, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVI đã thông qua Báo cáo đánh giá 1 năm thi hành Luật Thủ đô 2024, đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô nhằm thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực và quốc tế, tạo nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội.
Đánh giá một năm thi hành Luật Thủ đô 2024 (Luật số 39/2024/QH15), Báo cáo của UBND Thành phố Hà Nội, nhấn mạnh Thành phố đã đạt được nhiều kết quả nổi bật.

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch thường trực UBND Thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn, cho biết, tính đến nay đã có 69 văn bản triển khai Luật Thủ đô 2024 được ban hành. Trong đó, Hà Nội đã ban hành 66 văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô 2024 (56 Nghị quyết quy phạm pháp luật, 6 Nghị quyết cá biệt của HĐND Thành phố, 3 Quyết định quy phạm và 1 Quyết định cá biệt của UBND Thành phố).
Trong số văn bản đã được ban hành có nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng, có tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô, như các quy định về công tác quản lý, phát triển đội ngũ công chức, viên chức; khai thác, quản lý các nguồn lực về đầu tư, quản lý tài sản công, đất đai, môi trường, các công trình văn hóa… Đặc biệt là các quy định về phát triển khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, qua rà soát đánh giá, Luật Thủ đô 2024 với 7 Chương, 54 Điều đến nay đã có 5 Điều bị bãi bỏ toàn bộ, 10 Điều bị bãi bỏ một phần, sửa đổi, bổ sung về nội dung. Các Điều đang có hiệu lực có nhiều nội dung không còn là cơ chế đặc thù, vượt trội, do các Luật, Nghị quyết ban hành sau đã kế thừa đưa vào quy định của pháp luật và có nội dung quy định thuận lợi hơn; một số quy định đặc thù hiện nay cho các địa phương, quy định đặc thù cho một số dự án lớn, quan trọng đã có những cơ chế, chính sách rất thuận lợi, vượt trội để triển khai thực hiện.
Đồng thời, một số điều khoản không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc sáp nhập, thay đổi địa giới hành chính các tỉnh. Quy định của Luật Thủ đô hiện hành cần kịp thời thể chế hóa những chủ trương, chính sách lớn của Đảng theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, 7 Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị trong thời gian qua, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, giải quyết triệt để 5 “điểm nghẽn” của Thủ đô, hướng tới việc hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô; đưa thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”.
Dự kiến thể chế hóa 4 nhóm cơ chế, chính sách với 31 cơ chế, chính sách cụ thể tại Luật Thủ đô sửa đổi
Trên cơ sở tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ngày 10/1/2026; ý kiến tại Hội nghị của Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố (ngày 12/1/2026 và 14/1/2026); ý kiến tại cuộc họp của Ban Thường vụ Thành ủy với lãnh đạo các tỉnh trong vùng Thủ đô; ý kiến của chuyên gia, đề xuất của các sở, ngành Thành phố trong các cuộc làm việc, UBND Thành phố Hà Nội đã nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất việc xây dựng sửa đổi Luật Thủ đô hiện hành.
Trong đó, Hà Nội dự kiến thể chế hóa 4 nhóm cơ chế, chính sách với 31 cơ chế, chính sách cụ thể; được xây dựng trong Đề cương dự thảo Luật với 5 chương, 41 điều. Trong đó, tập trung vào các nội dung trọng tâm:
(1) Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Thủ đô: Khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia của Thủ đô; nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.

Khẳng định giá trị pháp lý của Luật Thủ đô là luật cơ bản, có tính chất đặc thù được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô. Thành phố được lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô ở các luật ban hành sau Luật Thủ đô có quy định khác về cùng một vấn đề. Văn bản quy định chi tiết, văn bản thi hành Luật Thủ đô được quy định khác với các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương.
(2) Về thẩm quyền: Tiếp tục phân quyền mạnh mẽ, toàn diện cho Thủ đô được chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực. Trong đó, Hà Nội chủ động quyết định về tổ chức, bộ máy, biên chế, tiền lương, thu nhập; chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Thành phố Hà Nội được trình nghị quyết của Quốc hội; được ban hành quy định chi tiết để thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương; được thí điểm về thể chế khác luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa được được pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, Hà Nội được chủ động trong cơ cấu thu, chi ngân sách; quyết định các khoản tín dụng, lập các quỹ tài chính để phục vụ đầu tư phát triển. Giao thẩm quyền toàn diện Thành phố trong phê duyệt dự án đầu tư, phương thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, cơ chế thông thoáng, linh hoạt về giải ngân đầu tư; Quyết định các hình thức xã hội hóa, hợp tác công – tư, cơ chế mới trong khai thác tài sản công, công trình, hạ tầng công.
Giao Thành phố Hà Nội chủ động ban hành cơ chế quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khác; được chủ động quyết định tỷ lệ, cơ cấu sử dụng đất, việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp và đất khác; biện pháp tái điều chỉnh đất đai; biện pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất.
(3) Về quản trị, xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô: Đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; quy định rõ cơ chế tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý đầu tư – kinh doanh và một số lĩnh vực phù hợp.
Giao Thành phố Hà Nội được chủ động ban hành cơ chế, chính sách, mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực: khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội; giao thẩm quyền cho Thành phố trong việc quản lý, cấp phép; chủ động quyết định áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn riêng áp dụng trên địa bàn; được ban hành định mức, chế độ chi ngân sách, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, giá dịch vụ áp dụng cho Thủ đô khác quy định, hoặc chưa có trong quy định của Trung ương.
Đồng thời, đề xuất sửa Luật giao Thành phố Hà Nội quyền chủ động trong việc ban hành cơ chế, chính sách, biện pháp lập, quản lý, thực hiện quy hoạch; Quy hoạch tổng thể Thủ đô có tính chất dẫn dắt, chi phối quy hoạch các tỉnh trong vùng, nội dung được cập nhất, điều chỉnh quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng. Chủ động trong xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển đô thị xanh, thông minh, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.
Về mô hình, loại hình kinh tế mới, sửa đổi Luật Thủ đô để giao Thành phố chủ động ban hành thể chế, tổ chức triển khai trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, kinh tế ban đêm, kinh tế bạc, kinh tế tầm thấp. Phát triển mạnh mẽ đô thị Hòa Lạc thành đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt về công nghệ, giáo dục đào tạo với các cơ chế, chính sách thuận lợi, thông thoáng về thủ tục đầu tư kinh doanh; các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội; môi trường thuận lợi về thử nghiệm công nghệ, mô hình mới, về giao dịch công nghệ; thuận lợi về xuất nhập cảnh, cư trú, sở hữu tài sản,… để thu hút đầu tư, nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học công nghệ.
Thành phố được quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.
(4) Vùng Thủ đô: Định hình rõ thể chế liên kết phát triển vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc với Hà Nội là hạt nhân, trung tâm phát triển vùng. Thể chế về liên kết về hạ tầng giao thông, hạ tầng chung cho Vùng (nước sạch, thoát nước, xử lý chất thải, năng lượng,..), liên kết trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường bền vững, kiểm soát an toàn thực phẩm. Thành lập Ủy ban điều phối phát triển Vùng với nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể; lập Quỹ phát triển vùng Thủ đô./.