Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Người Hà Nội mang ký ức Kẻ Chợ đi gìn giữ hồn làng xứ Huế

Phạm Mạnh Hào 26/01/2026 10:00

Ngô Quý Đức từng dành ba tháng đi dọc miền trung để tìm hiểu các làng nghề, trước khi anh dừng bước ở Huế trong một năm qua nhằm hồi sinh liễn làng Chuồn, một dòng tranh dân gian nổi tiếng của Huế nhưng đã thất truyền hơn một thập kỷ qua.

img_2544.jpeg
Ngô Quý Đức (áo vàng) trong buổi ra mắt dự án hồi sinh liễn làng Chuồn tại Huế.

Người Hà Nội ở Huế

Hà Nội những ngày giáp Tết thường gợi nhớ bằng những lớp ký ức chồng lên nhau: mùi giấy dó mới, màu mực tàu, những bức tranh dân gian treo trong căn nhà cũ, không ồn ào mà bền bỉ. Với Ngô Quý Đức, ký ức ấy không chỉ nằm trong hoài niệm, mà trở thành một con đường anh đi suốt hơn hai mươi năm, lần theo dấu vết của các dòng tranh dân gian Việt Nam.

Gặp Đức ở không gian cổ kính, trầm mặc của Ngự Hà Viên, anh kể, năm 2022, đã đi dọc các làng nghề ở miền trung, từ Ninh Thuận đi lên và cuối cùng dừng chân tại Huế. Ở cố đô, anh cũng dành thời gian khám phá các làng nghề và nhận ra là ở làng Chuồn nay là làng An Truyền, phường Mỹ Thượng, không còn ai làm liễn hay tranh Tết nữa. Qua tìm hiểu anh mới biết nghề khắc mộc bản tại đây đã mai một khoảng 10 năm sau khi nghệ nhân cuối cùng của làng Chuồn - ông Huỳnh Lý - qua đời. Tuy vậy, phần vì thông tin ít ỏi, tư liệu rời rạc, khiến anh khi ấy chưa dám nghĩ xa hơn. Đến tháng 8/2025, khi Phường Bách Nghệ thực hiện chuyên đề mộc bản, một số nhà nghiên cứu ở Huế có nói về tranh làng Chuồn và nhiều bạn trẻ cũng bày tỏ sự tiếc nuối vì không còn dòng tranh dân gian này nữa, Đức mới bắt đầu nuôi ý tưởng về việc hồi sinh nghề liễn làng Chuồn, dù thời điểm đó, việc tìm kiếm thông tin rất khó khăn. Những bức hình về liễn làng Chuồn không xuất hiện trong bất cứ tài liệu nào, thậm chí là ở nước ngoài, hoặc nếu có thì ảnh chụp bé, không rõ chi tiết.

Tuy nhiên, qua hành trình đi, làm việc ở nhiều làng tranh từ năm 2007 như Đông Hồ, Hàng Trống… Đức hiểu rõ dòng chảy của tranh dân gian Việt Nam bắt nguồn từ đâu. Bên cạnh đó, việc gặp các nghệ nhân làng nghề Thanh Liễu (Hải Dương), hỗ trợ họ hồi sinh làng nghề khắc mộc bản nên anh cũng nắm được quy trình, điểm mắt xích để biết nghề in tranh mộc bản có những gì cần làm nhằm khôi phục. Anh cho rằng, việc hồi sinh nghề liễn làng Chuồn cần thực hiện khẩn trương bởi nếu để chậm hơn nữa, không chỉ nghề liễn mất đi, mà những dấu vết cuối cùng của ký ức làng cũng sẽ trôi theo thời gian. Ngoài ra, theo suy nghĩ của anh, hiện nhiều nhà nghiên cứu có tuổi ở Huế vẫn còn sống, nên họ có thể tư vấn, giúp đỡ anh trong việc làm rõ nhiều vấn đề liên quan tranh làng Chuồn.

img_2475.jpeg
Ngô Qúy Đức tại không gian Ngự Hà Viên, Huế, nơi anh gắn bó một năm qua.

Vậy là sau khi vào Huế sinh sống từ đầu năm 2025, mãi đến ngày 14/10 khi anh trở lại làng Chuồn, Đức liền bắt tay ngay thực hiện dự án hồi sinh nghề liễn. Thế mới nói, chàng trai sinh năm 1985 sinh ra và lớn lên ở Hà Nội quyết định dành thời gian sống trọn vẹn ở Huế trong một năm qua, không phải để du ngoạn, mà để lặng lẽ làm công việc phục hồi những làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một. Trong hành trình ấy, liễn trở thành một câu chuyện tiêu biểu của anh, nơi ký ức Tết của Huế được nối lại bằng tình yêu với di sản của một người Hà Nội nhằm gìn giữ hồn làng Chuồn.

Cuộc gặp của ba miền

Trước ngày Ngự Hà Viên diễn ra buổi ra mắt và giới thiệu dự án hồi sinh nghề liễn làng Chuồn vào đầu tháng 1/2026, tôi có dịp theo chân Đức về An Truyền, một phần để anh chụp mấy tấm hình đình làng An Truyền, một phần để anh có cơ hội mời lãnh đạo địa phương dự buổi ra mắt. Nhờ đó, chúng tôi có dịp gặp Trưởng thôn 17 Huỳnh Thị Thắm, nghe bà kể lại nhiều câu chuyện về liễn làng Chuồn khi xưa. Bà Thắm cho biết, do nghề mai một lâu năm, giờ người già trong làng ai cũng muốn có một bộ liễn bày Tết và bản thân bà, người dân đều hy vọng có thể khôi phục nghề, vừa để trưng bày, vừa để con cháu nhớ lại cội nguồn.

Và ở Ngự Hà Viên một ngày đầu tháng 1/2026, quá trình phục hồi nghề liễn làng Chuồn đã đánh dấu sự trở lại của một trong những dòng tranh dân gian nổi tiếng của Huế. Tại đây, Đức và các thành viên trong dự án giới thiệu cho các chuyên gia trong giới văn hóa Huế, các nghệ nhân và người xem bộ mộc bản gồm bức đại tự chữ “Phúc” lồng ghé họa tiết tứ linh (long, lân, quy, phụng” và cặp câu đối "Thiên địa tam dương thái/Càn khôn vạn sự xuân" trên nền gỗ thị vàng óng, với những đường khắc sắc sảo, tinh tế đến từng chi tiết. Đức chia sẻ, "Khi nghề đã mất, nghệ nhân đã đi xa, và mộc bản gốc cũng không còn, chúng tôi buộc phải đi một con đường vòng. Từ Huế, chúng tôi ngược ra bắc, tìm về làng khắc mộc bản Thanh Liễu (Hải Dương), gõ cửa từng nhà nghệ nhân ở Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, Sình để học hỏi kỹ thuật, để chắp nối từng mảnh ký ức vụn vỡ."

Nhìn lại hành trình đó không chỉ là quãng thời gian khẩn trương từ tháng 10/2025 đến tháng 1/2026, những khó khăn về mặt thông tin và tài chính, mà thật sự đây là kết quả của nhiều năm rong ruổi qua các làng nghề của Đức, nhất là các làng tranh. Theo chàng trai sinh năm 1985, quá trình phục hồi bắt đầu từ việc số hóa những tư liệu hiếm hoi còn sót lại, rồi lần lượt chắp nối họa tiết, khắc mộc bản, thử in, chỉnh sửa…. Riêng việc khắc mộc bản mất đến hai tháng. Cùng với đó, họ đi đi lại lại giữa các làng tranh để tham khảo, xin tư vấn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật, nhuộm giấy, vẽ, màu, cái gì áp dụng được thì áp dụng.

img_2591.jpeg
Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt tô màu cho bức liễn làng Chuồn.

Theo Đức, trong câu chuyện này, sự đóng góp của nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt (làng Thanh Liễu) được nhắc đến như một nhân tố then chốt. Đôi bàn tay tài hoa của Đạt đã cần mẫn ngày đêm "thổi hồn" vào gỗ, biến những bản vẽ phục dựng trên giấy thành những tấm mộc bản sống động, giữ được cái thần thái uy nghi mà mềm mại đặc trưng của liễn làng Chuồn xưa.

Tuy vậy, hiện nhóm của Đức mới phục hồi chữ Phúc, hai cặp câu đối. Anh cho biết thêm, trong tâm thức của nhiều người, bộ liễn làng Chuồn thường gắn liền với hình ảnh quen thuộc của bộ ba: Một bức đại tự ở giữa và đôi câu đối hai bên. Thế nhưng, càng đi sâu vào nghiên cứu với những hình ảnh có được, họ càng nhận ra sự phong phú trong cách chơi liễn của cha ông. Đó là với những gia đình có không gian thờ tự rộng rãi, bề thế, bộ liễn không chỉ dừng lại ở con số 3 (tam sự), mà còn được mở rộng thành con số 5 (ngũ sự), tạo nên một sự cân đối, trang nghiêm và đầy đặn hơn cho không gian tâm linh. Chính vì vậy, nhóm đã chọn hình tượng “Hạc ngự lưng quy” (Hạc đứng trên lưng rùa) để đưa vào hai tấm liễn bổ sung. Theo Đức, đây là biểu tượng không thể tách rời trong văn hóa thờ cúng của người Việt Nam nói chung và người Huế nói riêng, tượng trưng cho sự hài hòa giữa trời và đất (Hạc là chim tiên đại diện cho cao xanh, rùa là linh vật đại diện cho đất thấp), cho sự trường thọ và khí tiết thanh cao.

Quan trọng hơn, nói như Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế Phan Thanh Hải, việc phục hồi liễn làng Chuồn không chỉ dừng ở việc phục hồi mà cần đưa di sản vào cuộc sống thường ngày, phát huy giá trị văn hóa trong dòng chảy đương đại. Về vấn đề này, Đức cũng chia sẻ rằng, họ có kế hoạch tiếp biến di sản như sáng tạo các chữ khác, đưa các hoạt tiết đặc trưng của Huế lồng vào chữ, làm chữ quốc ngữ hay làm ra các bộ chữ nhỏ hơn để khách du lịch có thể trải nghiệm. Đồng thời, đưa liễn làng Chuồn lên bìa sách, quạt, bao bì, thời trang…

img_2535.jpeg
Bộ liễn làng Chuồn gồm chữ Phúc và cặp câu đối.

Liễn làng Chuồn được phục hồi và từng bước trở về đúng vị trí của nó: Một phần của Tết, của nếp nhà, của không gian văn hóa Huế. Sự tham gia của Đức, các nghệ nhân Thanh Liễu chỉ là bước đầu; phần còn lại thuộc về chính người làng Chuồn, khi họ cần tiếp tục giữ nghề, truyền nghề và sống cùng nghề.

Trong cuộc gặp của ba miền Hà Nội, Hải Dương và Huế, không ai đứng ở vị trí trung tâm. Tuy nhiên, nếu có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đó là tinh thần vì di sản dân tộc, sự tôn trọng quá khứ và nghĩ đến tương lai của các thành viên dự án. Và trong sợi chỉ ấy, dấu ấn của một người Hà Nội là rất rõ với suy nghĩ đơn giản, giữ nghề không phải để níu kéo quá khứ, mà để quá khứ có chỗ đứng trong đời sống hôm nay. Chính cách đi này của Đức đã góp phần gìn giữ một phần hồn làng xứ Huế, một di sản dân tộc, theo cách bền bỉ, không ồn ào, nhưng khó phai./.

Phạm Mạnh Hào