Nhà  thơ Giang Nam: Vật đổi sao dời vẫn vẹn tình 'Quê hương'

Truyện - Ngày đăng : 09:11, 05/07/2011

(NHN) Có lẽ ông là  người có nhân dạng ổn định nhất trong các nhà  thơ Việt Nam. Nếu chỉ nhìn và o khuôn mặt với đôi kính trắng gọng đen bình yên ấy sẽ ch?ng thấy những thăng trầm khổ đau, những loạn ly trận mạc.

Cái tuổi 83 dường như bất lực để người ta vẫn thấy một Giang Nam bình thản trước thời gian, bình thản trước mọi biến chuyển vân vi của cuộc đời...

Nếu như nhìn những bức ảnh của ông ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời sẽ có cảm giác dường như không thấy sự vận động của thời gian. Từ cái thời thanh niên trên căn cứ Аá Bà n hay tấm hình chụp chung với nhà  thơ Thanh Hải, hay tấm hình chụp với anh em ở cơ quan Hội Văn nghệ Giải phóng, và  gần nhất là  những tấm hình chụp ở Hong Kong, những tấm hình dự Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới... Tất cả vẫn là  hình dáng thư sinh nhử nhắn với đôi kính trắng gọng đen.

Căn nhà  số 46 Yersin còn giữ nguyên thiết kế từ thời Pháp nằm giữa Thà nh phố Nha Trang yên bình. Không cử­a hà ng cử­a hiệu, chỉ có những nan sắt của hà ng rà o suốt một đoạn vỉa hè dà i như trước một công sở. Những giò lan, chậu cảnh choán hết không gian tạo thà nh một khu vườn nho nhử. Sau những giò lan ấy là  thư phòng. à”ng ngồi bình yên trước mái hiên với một kệ sách kê tận dụng ngay ở sảnh cùng một bộ bà n ghế mây giản dị. Cái khung cảnh ấy dễ cho một liên tưởng vử một sự an nhà n của một nhà  thơ từng giữ chức phó chủ tịch tỉnh. Và  cũng dễ liên tưởng rằng đó là  một ân lộc của những tháng năm là m quan cách mạng. Nhưng không. Аây là  căn nhà  mà  vợ ông mua lại của một viên chức chế độ cũ từ ngà y mới giải phóng Nha Trang. Bà  cũng là  một chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt và o tù 2 lần và  nguồn cơn để ông viết nên bà i thơ Quê hương nhiửu thế hệ học trò thuộc lòng từng câu từng chữ: Cứ mỗi ngà y hai buổi đến trường / Yêu quê hương qua từng trang sách nhử / Ai bảo chăn trâu là  khổ? /Tôi mơ mà ng nghe chim hót trên cao...

Bao năm nay Giang Nam vẫn vậy, vẫn đôi kính trắng gọng đen quen thuộc.
Bao năm nay Giang Nam vẫn vậy, vẫn đôi kính trắng gọng đen quen thuộc.

Mối tình tử­ biệt sinh ly

à”ng bà  gặp nhau tại Аá Bà n - căn cứ địa cách mạng của Khánh Hoà  những năm kháng chiến. Gia đình bà  khi đó có nghử là m mắm gia truyửn tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà  lớn lên đửu lần lượt tham gia cách mạng. Còn nhử tuổi nhưng cô gái Phạm Thị Triửu đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Аồng Bò, gia đình lo sợ cho người nhắn gọi cũng không vử. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà  được điửu lên Аá Bà n là m ở Văn phòng Tỉnh ủy.

Còn ông, từ huyện Ninh Hoà  cậu bé Giang Nam ra Quy Nhơn học bậc cao đẳng tiểu học ở trường Quốc. Khi Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cử­a, ông gánh theo sách vở trở lại quê nhà  tham gia công tác của xã phụ trách công tác thiếu niên và  thông tin tuyên truyửn. Xã Vạn Thắng của ông ngà y ấy trong tình trạng ngà y địch đêm ta. Các anh trai đửu đã lên căn cứ hoạt động cách mạng, cha ông khi đó nói với các con rằng: "Chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên". Và  cậu con trai út, em của Giang Nam được giao lãnh trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha ông đà nh gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng và o cứ với các anh.

Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Аảng, ông bà  quen biết nhau, tuy tình trong như đ㝠nhưng chẳng ai dám ngử lời. Chuyện yêu đương trong tổ chức ngà y ấy là  một cấm kửµ. Khi ông có tên trong đoà n sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thà nh lập sắp lên đường ra Bình Аịnh tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết hiệp định Genève giữa ta và  Pháp, tổ chức mới gợi ý để ông bà  là m đám cưới để có sự rà ng buộc mà  giữ được nhau. Ở với nhau được hai đêm thì ông lên đường ra vùng tự do theo thoả thuận, bà  từ căn cứ trở vử Nha Trang. Từ đó là  những tháng ngà y ly biệt mặc dù sau đó ông được giao nhiệm vụ trở lại hoạt động trong lòng địch với bí danh Tư Gương.

Nhà  thơ Giang vợ tuổi ngoà i tám mươi vẫn hạnh phúc bên nhau.
Nhà  thơ Giang Nam và  vợ tuổi ngoà i tám mươi vẫn hạnh phúc bên nhau.

Khi chia tay, ông bà  và  đồng đội hy vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoà n tụ theo tinh thần hiệp định, không ai nghĩ đó là  cuộc chia ly không hẹn ngà y vử. à”ng được tổ chức đưa vử lại Nha Trang, được đưa và o Sà i Gòn là m giấy tử hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bử hoạt động. Dù sống ngay trên thà nh phố quê hương mình nhưng ông bà  hoạt động ở 2 tuyến khác nhau, không được gặp mặt, ông luôn phải cảnh giác giữ bí mật, ngoà i lính tráng, công an mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ nguồn gốc. à”ng miệt mà i với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tử báo hợp pháp với tên gọi Gió mới hoạt động công khai tại nội thà nh Nha Trang. Dưới vử bọc một công nhân xưởng cưa, Giang Nam đửu đặn viết bà i tuyên truyửn cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên...

Khi Mử¹ nguửµ tiến hà nh các đợt tố cộng, diệt cộng cán bộ đảng viên ở miửn Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để Giang Nam và  vợ ông chuyển vùng hoạt động vử Biên Hoà . Аây cũng là  lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau ông bà  mới có điửu kiện ở bên nhau. Hai vợ chồng thuê một căn nhà  nhử trong xóm lao động nghèo, ông là m công cho một tư sản thầu khoán người Việt, bà  buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chử lệnh của trên, nhiệm vụ lúc nà y là  dựa và o quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt, bị hy sinh. Аó cũng là  thời gian bà  sinh hạ đứa con gái đầu tiên và  cũng là  duy nhất của ông bà  sau nà y.

Rút niửm đau viết Quê hương

Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút Giang Nam vử lại Khánh Hoà . Bà  Triửu ở lại một mình nuôi con, đứa con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà  phải lấy chiếc áo của ông để đắp cho con đỡ khóc theo lời bà  chủ cho thuê nhà  tốt bụng. Nghe bà  chủ nhà  hửi vử người chồng bỗng dưng vắng mặt, bà  Triửu phải nuốt nước mắt và o trong nói dối rằng ông lên Buôn Mê Thuột là m vì nghe nói trên đó trả lương rất hậu để chủ khửi nghi ngử vử sự biến mất đột ngột của người thuê nhà . Một đêm, địch ập và o bắt mẹ con bà  Triửu giải đi dù lúc đó đứa con gái đầu còn nhử xíu, đó là  năm 1959.

Sau khi vợ con Giang Nam bị bắt, tổ chức đã cho người dò la tung tích của bà  Triửu cùng đứa con gái nhử nhưng không tìm ra manh mối. Một buổi tối của năm 1960, Giang Nam được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hửi động viên rồi thông báo tin dữ: vợ và  con gái ông đã bị địch giết hại trong nhà  tù tại Phú Lợi, Sà i Gòn. Аau đớn đến bà ng hoà ng, ngay đêm hôm đó, tại căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hoà  đóng dưới chân núi Hòn Dù phía tây thà nh phố Nha Trang, bên ngọn đèn thắp bằng nhựa cây, trong xúc cảm của niửm đau đớn tột cùng ông đã viết nên bà i thơ Quê hương với những câu thơ như vẽ nên một sự thật đau xót: Giặc bắn em rồi quăng mất xác / Chỉ vì em là  du kích em ơi / Аau xé lòng anh chết nử­a con người... Sau nà y bà i thơ đoạt giải nhì giải thưởng thơ năm 1960-1961 của Tạp chí Văn nghệ và  đã trở thà nh một dấu mốc trong đời thơ của Giang Nam cũng là  dấu mốc lịch sử­ của gia đình.

Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng bất ngử, năm 1962, sau 3 năm bị bắt, vợ và  con gái Giang Nam được thả vử do không tìm ra căn cứ kết tội. Cô con gái nhử phải theo mẹ hết nhà  giam nà y sang nhà  giam khác, bà  Triửu phải đấu tranh quyết không chịu xa con, vì thế mà  mẹ con vẫn được ở bên nhau vẹn toà n. Gia đình nhử được đoà n tụ trong nước mắt. Thế nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy khu 6 gử­i Tỉnh ủy Khánh Hoà  điửu Giang Nam lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. à”ng bà  vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để Giang Nam vử cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Аăk Lăk và  Tuyên Аức. Vử Khu chưa được bao lâu ông được cử­ đi học Trường Аảng do Trung ương cục miửn Nam mở ở Tây Ninh, sau đó Giang Nam được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư ký Hội.

Sau ngà y giải phóng miửn Nam, Giang Nam cùng với đội ngũ văn nghệ sĩ Hội văn nghệ giải phóng hoạt động tại T4 trước đây được giao kiện toà n các tổ chức văn nghệ của Sà i Gòn. Còn vợ ông sau giải phóng vẫn tham gia công tác trong chính quyửn mới tại Thà nh phố Nha Trang. Những tưởng sau những biến cố thăng trầm của cuộc đời cách mạng, giử đây ông bà  sẽ được đoà n tụ, nhưng không, còn một cuộc thiên di nữa khi năm 1978 Giang Nam được điửu ra Hà  Nội phụ trách mảng văn nghệ miửn Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Ngà y ấy cơ quan Báo Văn Nghệ chưa có chỗ ở, ông phải ở tạm căn phòng vốn là  phòng tắm tại cơ quan Hội Nhà  văn ở 65 Nguyễn Du. à”ng động viên bà  ra Hà  Nội ở,

Bình yên sau dâu bể

Bây giử thì mọi chuyện đã lùi xa. Sau bấy nhiêu dâu bể ông ngồi đó bên những giò lan vươn cà nh đu đưa trước là n gió biển. Vẫn gương mặt với đôi kính gọng đen mắt trắng bình thản trước thế sự. Cô con gái duy nhất của ông bà  hai lần và o tù cùng mẹ nay đã là  một phụ nữ ngoà i năm mươi, hiện giữ cương vị Phó Giám đốc công ty vận tải biển. Trong ngôi nhà  thân thuộc, phía sau ông già  nhử nhắn bên bà n viết vẫn có bóng dáng người bạn đời thấp thoáng ở phòng trong. Bà  năm nay cũng đã bước qua tuổi 80, mắt chưa mử nhưng chân thì đã chậm. Cuộc đời đã cho ông bà  chữ thọ để được ở bên nhau hưởng những năm tháng cuối đời an lạc. Năm 2005, ông đã trải qua một cuộc phẫu thuật nối động mạch và nh tim hiếm có. Trên thế giới phẫu thuật nà y chưa từng được tiến hà nh ở bệnh nhân trên tuổi bảy mươi. Ca phẫu thuật đã thà nh công. Bác sĩ người Pháp trực tiếp mổ biết ông nói và  nghe tốt tiếng Pháp, đã đợi bằng được bệnh nhân chiến trường tỉnh lại để nói lời chúc mừng. Từ đó đến nay sức khoẻ ông vẫn ổn định.

Tôi ngử ý chụp một tấm ảnh ông bà  sau cuộc trò chuyện, Giang Nam đứng dậy nhanh nhẹn đỡ bạn đời cùng bước xuống khoảng sân nhử với ô cử­a sổ bạc mà u sơn trắng. Mái ngói ấy, khung cử­a ấy, bậc thửm ấy cho người ta cái cảm giác thời gian ngưng đọng, như sự tĩnh tại của chủ nhân nó trước mấy mươi năm vật đổi sao dời. Ngoà i hà ng rà o căn nhà  của ông bà  bây giử vẫn gắn một tấm biển nhử khiêm tốn giới thiệu sản phẩm nước mắm truyửn thống của là ng Vĩnh Trường do các cháu của bà  nối nghử để chế biến ra thứ nước mắm gia truyửn tinh khiết. Аứng ở sân nhà  ông bà  có thể nghe thấy tiếng sóng biển Nha Trang ì oạp vỗ vử như rì rầm những câu chuyện lịch sử­ bi thương mà  hà o hùng của mảnh đất Khánh Hoà . Nơi ấy là  Quê hương của Giang Nam, nơi ông đã sinh ra, đã sống, chiến đấu giải phóng quê nhà , đã yêu một tình yêu lứa đôi đồng hà nh với một tình yêu đồng chí.

eVan/VnE