ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT

Truyện - Ngày đăng : 09:26, 10/07/2017

ác giả Trương Đức Giáp (Bút danh Hương Trà) sinh 1954 tại Hà Nội. Cử nhân ngành Văn, dạy học tại các trường phổ thông ở Hà Nội. Đã in các tiểu thuyết “Nuốt dòng nước mắt”, “Khát vọng chia tay”, “Cầu vồng đêm”, “Ám ảnh”, “Nhật thực”, “Dặm đường cát bụi”. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Truyện ngắn “Những người bạn” được chọn vào “Tốp 10” truyện ngắn hay báo Văn nghệ, năm 2003.


         1.“Ranh giới đỏ” viết về thời hậu chiến. Đó cũng là một cách thức viết gián tiếp về thời chiến tranh. Nhưng không phải bằng cảm hứng hoài cổ về những cái đã đóng băng mà là bằng cảm hứng đương đại – hướng tới cái chưa hoàn tất như một đặc điểm của tư duy tiểu thuyết. Câu chuyện bắt đầu từ trên đất nước Đức thống nhất chứ không phải ở Việt Nam. Hà Rơ-mác, công dân Đức gốc Việt, mất người bố nuôi là Lut-vich-van Rơ-mác. Ông vốn là một nhà báo nổi tiếng, từng có mặt ở Việt Nam trong chiến tranh.

Trong những chuyến công tác về Việt Nam, Hà Rơ-mác cố gắng đi tìm cội nguồn của mình. Anh đã đến phố Khâm Thiên (Hà Nội), nơi đó năm 1972, như lời bố nuôi thuật lại, thì bố mẹ đẻ anh đã bị bom Mỹ giết hại. Chính nhà báo Lut-vich-van Rơ-mac là người đã nhận anh đưa về Đức làm con nuôi. Rồi cả bố mẹ nuôi anh sau đó đều qua đời. Dẫu là công dân Đức nhưng trong máu huyết Hà Rơ-mác đích thực là người Việt Nam. Cả quá trình đi tìm gốc rễ của mình, cái gọi là Việt Nam tính cứ ngấm dần vào anh, lớn lên như một suối nguồn. Nhân vật này gợi suy ngẫm về thân phận của hơn bốn triệu người Việt Nam hiện đang định cư ở nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Có lẽ sống ở chân trời góc bể nào thì trong tâm can họ vẫn là quê kiểng và nghĩa đồng bào. Không ai thay đổi được quá khứ, tức lịch sử. Nhưng có thể nhìn nhận lịch sử ở những góc nhìn, quan điểm rất khác nhau. Sự khác nhau đó chính là những ranh giới. Tuy nhiên không phải là những ranh giới nhất thành bất biến. Nó thường mềm mỏng, tiến triển phù hợp với quy luật phát triển bền vững của sự vật. Vì thế, tôi nghĩ, “Ranh giới đỏ” của Trương Đức Giáp có tính chất một tiểu thuyết luận đề, manh nha triết lý về cõi nhân sinh (rất may mắn cho độc giả không phải là thứ “triết lý vặt” mà các cây bút mới tập tọng viết văn hay thích áp đặt cho tác phẩm của mình).

          Công cuộc đi tìm bố mẹ đẻ của Hà Rơ-mác, nhìn sâu hơn và rộng ra chính là quá trình tìm ra cội rễ của một con người có ý thức về đồng bào của mình, về nơi chôn nhau cắt rốn, về quê hương đất nước. Nhưng đôi khi lịch sử đã làm mờ đi các nhân chứng, sự kiện, khiến các giả thuyết cứ chồng chéo lên nhau. Phảng phất một chút trinh thám cái quá trình Hà Rơ-mác tiếp cận sự thật. Phảng phất một chút kỳ ảo (thậm chí hơi ma quái) khi anh trở về nơi phố cũ, nơi ngày trước anh may mắn thoát chết nhờ có bàn tay của Chúa?! Sự thật không được “bóc trần” ngay. Nó đi qua nhiều vòng đồng tâm, đôi khi vọt ra thành các parabole.

Thậm chí có khi như thể là vào ngõ cụt. Mẹ anh là bà Đào? Bố anh là ai trong hai người đàn ông độc thân ở “miếu Ba Cô” trên phố Khâm Thiên? Để có cơ sở khoa học, anh đã về tận quê gốc người được coi là bố đẻ (ông Tuấn) để khảo chứng, nhưng kết quả AND cho thấy giữa anh và ông không cùng huyết thống. Nhưng người đọc tinh ý thì sẽ biết khi mới vào đầu tiểu thuyết ông Hoàng bỗng nhiên ôm chầm lấy Hà Rơ-mác và “Ánh mắt ông nhiều khi lóe lên những tia sáng rất lạ kì khiến Hà sửng sốt” (tr. 52-53). Tác giả giấu rất kĩ chi tiết này cho đến “Đoạn kết” mới bạch hóa: “Mấy tháng sau cha con ông Hoàng gặp nhau trên đất Đức. Hà vỡ lẽ ra bao điều và thấm thía nỗi bi kịch của mẹ của cha”.

Có thể nói trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tôi nghĩ, lần đầu có một nhân vật phân thân như thế (vừa duy tình vừa duy lí, vừa rất cá nhân nhưng biết hòa dồng với cộng đồng), nhân vật có hai Tổ quốc. Vốn là một cây bút có tâm và tầm, anh nguyện sẽ “Viết về hai tổ quốc, xưa nay và ngày mai. Anh hiểu mình sẽ phải làm gì, đi đâu về đâu” (tr. 207). Hà Rơ-mác là nhân vật mang “tính nhị nguyên”.

Cái khao khát được viết vốn đã thường trực và trỗi dậy trong con người anh “Bỗng trong Hà một khao khát được viết trào lên. Viết về thời hậu chiến. Về những số phận mồ côi. Mồ côi cha mẹ, tổ quốc…Anh thấy nhớ ngòi bút không nguôi” (tr.75). Cái tâm thế này của nhân vật chính là được tác giả “thổi” vào. Người ta nói nhân vật như là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là đúng.

          Dĩ nhiên trong “Ranh giới đỏ” còn đan xen thêm các chủ đề khác – chủ đề hòa giải, hòa hợp dân tộc (qua nhân vật anh trai Thu, người phụ nữ chủ động có tình cảm với ông Hoàng), chủ đề di dân (qua hai nhân vật chị em gái Lệ - Mỹ đoàn tụ trên đất Đức),…Tuy nhiên chủ đề chính tập trung qua “vai chính” là Hà Rơ-mác. Đó là con người của thời hiện đại – dám chấp nhận nghịch cảnh, dám dấn thân, dám sống hết mình. Anh là đại diện cho một thế hệ biết cách không biến quá khứ thành gánh nặng như một thứ “bóng đè”. Và quan trọng hơn là dám tận hiến, tận hưởng, dám vượt qua những ranh giới tưởng như nhất thành bất biến.

Thế hệ như ông Hoàng (bố đẻ) hay ông Lut-vich-van Rơ-mac (bố nuôi), tận hiến thì có thừa nhưng tận hưởng thì còn quá khiêm tốn. “Ranh giới đỏ” của Trương Đức Giáp đã đáp ứng yêu cầu của tiểu huyết – có nhân vật, có vấn đề. Một nhà văn đã có cái định nghĩa rất hay về tiểu thuyết là “một câu chuyện bịa y như thật”. Đọc “Ranh giới đỏ”, riêng tôi, đã cảm thấy tiến gần đến được cái cảm giác này.

          2. Xu hướng tiểu thuyết ngắn đang rất phổ biến trên văn đàn đương đại Việt Nam. Thậm chí có nhà văn còn viết tiểu thuyết siêu ngắn như Vũ Xuân Tửu với “Hình bóng đàn bà” (chỉ mấy chục trang). “Ranh giới đỏ” là một tiểu thuyết ngắn, nó phù hợp với cơ chế đọc hiện nay. Với một số trang khiêm tốn (207 tr.), tác phẩm có cái lợi thế khiến độc giả có thể đọc một mạch, theo lối đọc của truyện ngắn. Cái khéo của tác giả là mỗi lần câu chuyện có nguy cơ bị bẻ ra, tãi ra là lập tức được “thu gom” lại. Như đã nói ở trên, “Ranh giới đỏ” vốn đa chủ đề. Vì thế có nhiều mạch truyện song song. Có thể giữa Hà Rơ-mác với Gien - ny là một (ở trên đất Đức).

Nhưng lập  tức bị tác giả “ thâu tóm”, không phát triển nữa. Một mạch truyện khác giữa ông Hoàng và Thu cũng bị tác giả “ cắt ngọn”, thành ra dừng ở nửa chừng. Cái dòng chính là Hà và ông Hoàng, Hà và Lệ. Tập trung vào một vài nhân vật chính là yêu cầu của tiểu thuyết ngắn. Giản lược cốt truyện cũng là một yêu cầu của tiểu thuyết ngắn. Cả tiểu thuyết nếu “đếm” kĩ thì có đến vài chục nhân vật. Nhưng trung tâm là Hà Rơ-mác và ông Hoàng (bố đẻ), còn lại như các vệ tinh quay quanh quỹ đạo. Hà Rơ-mác xuất hiện từ trang đầu.

Ông Hoàng xuất tiếp ngay sau đó (tr.24). Ở Đoạn kết thì chỉ còn lại hai bố con ông Hoàng (tr.205). Có thể nói là một cuộc sàng lọc kĩ càng. Đó là cơ hội để tác giả tập trung ánh sáng ngọn đèn pha công suất cực mạnh soi chiếu trực tiếp vào số phận hai nhân vật chính, từ đó ánh phản số phận “đám đông”. Có lẽ nhờ viết truyện ngắn khá thành thục nên khi viết tiểu thuyết tác giả tiết chế được ngòi bút. Và nữa, truyện ngắn của Trương Đức Giáp thường gọn ghẽ, tinh tươm (ví dụ như “Những người bạn”, được chọn vào “top” 10 truyện ngắn hay báo Văn nghệ, năm 2003). Nên anh tự tin mình không dài dòng khi viết tiểu thuyết.

          3. Đọc văn thì biết được sở trường, sở đoản của tác giả. Sở trường của Trương Đức Giáp là viết ngắn. Viết về những cái gì gọn nghẽ, xinh xắn, “vừa khoảng”. Tuy nhiên viết ngắn không phải vì non vốn liếng (vốn sống và vốn chữ). Suy cho cùng là cái “tạng” văn. Đã gặp và trò chuyện văn chương với tác giả, tuy chỉ mới lần đầu, nhưng có cái cảm giác nhờ linh tính nghề nghiệp – người này không “hoành tráng” được. Tức là không ăn sóng nói gió. Tức là không “vạn lí trường thành” được. Tức là không “trường kì mai phục” được.

Người này không có tham vọng thám hiểm vũ trụ hay đáy dại dương. Người này không có cái tham vọng “thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn” như cái khẩu hiệu của một ông quan cấp huyện xướng lên ở địa phương mình vào dạo đầu hòa bình sau 1975. Nó có vẻ hơi hoang đường và hoang đàng. Trương Đức Giáp có vẻ thiên về “cưa lấy một khúc” trên thân cây đời nhưng qua cái vân gỗ mà có thể giúp độc giả biết được cả đời thảo mộc trăm năm. Nhưng đem cái nhìn “ngắn” vào tiểu thuyết, dẫu là tiểu thuyết ngắn thì, đôi khi cũng dễ có cái hệ quả làm “gẫy” cấu trúc tác phẩm. Tác phẩm gồm 35 đoản khúc (tôi không gọi là chương, đánh dấu từ I đến XXXV) và một “Đoạn kết”, đôi chỗ có nguy cơ bị “gẫy”. Rất may tác giả đã kịp hàn gắn. Nhưng người đọc tinh ý vẫn nhận ra những vết hàn nối mờ mờ.

          Tiểu thuyết là một chuyện bịa y như thật. Định đề này không ai phản bác. Nghĩa là một câu chuyện mới lạ được kể một cách có nghệ thuật. Nhưng quan hệ giữa “kể” và “tả” là không thể không quan tâm trong các chủng lọai truyện (ngắn, vừa, dài). Rõ ràng là có thể vì sợ “tả” sẽ lan man, kéo dài nên tác giả chủ yếu “kể”.

Nhưng cứ kể dồn dập thì đôi khi độc giả có cái cảm giác bị áp lực và mệt. Nên chăng xen vào những đoạn đặc tả? Nó như những nốt trầm trong âm nhạc vậy. Đó chính là những “khoảng lặng” cần thiết. Nó giống như cái chiếu nghỉ trên một cầu thang dốc đứng thời chưa có thang máy mà phải leo bộ lên cao. Nó có tác dụng điều hòa sự thở và điều hòa gân cốt cho những bước leo cao tiếp sau đó. Thêm vào, đọc văn Trương Đức Giáp (từ tập truyện ngắn Cơn lốc trắng đến tiểu thuyết Ranh giới đỏ)  thấy rõ ràng một lối văn có tốc độ.

Nhà văn không thuộc phái “chẻ sợi tóc làm tư” khi huy động vốn từ vựng để viết. Câu văn như bị ùn tắc, xô đẩy nên mau chóng tìm lối thoát. Trong cái gấp gáp đôi khi vội vã ấy liền rơi vào trạng thái “nói” và “viết” bị xâm thực. Một  vài ví dụ: “Hà xin tạm nghỉ làm và lao vào việc kiện tụng” (tr. 6), “Về, Hà gắng huy động, sử dụng vốn tiếng Việt của mình để phục vụ công việc sắp tới” (tr. 9),…

Một tác phẩm hấp dẫn độc giả, thiết nghĩ, có yếu rất tố quan trọng tuy không phải tiên quyết, là câu văn đẹp. Cái đẹp của câu chữ sẽ neo vào lòng độc giả cái nhã thú được thưởng thức văn chương. Nếu cần biết một câu chuyện mới lạ, hấp dẫn đôi khi báo chí có thể đảm nhiệm được. Nhưng neo vào lòng độc giả một nếp mĩ cảm thì phải trông cậy tuyệt đối vào văn, không có gì thay thế được. Cái câu cổ nhân vẫn thường xướng “văn là người” tôi e rằng không sát hợp trong trường hợp Trương Đức Giáp. Gặp anh tuy chỉ mới lần đầu có cảm tình lập tức về một con người quảng giao, nhã nhặn, bặt thiệp, hào hoa. Nhưng tại sao đọc văn của anh, riêng tôi, lại cứ tiêng tiếc? Một câu hỏi lớn nhưng chưa ai trả lời!

Bùi Việt Thắng