Tiếp thu tinh hoa văn hóa múa thế giới
Mỹ thuật - Nhiếp ảnh - Ngày đăng : 11:35, 26/09/2017
Nghệ thuật múa cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ vốn di sản quý báu của nghệ thuật múa dân gian truyền thống các dân tộc trên dải đất hình chữ S. Đó là điều mà chúng ta có thể khẳng định.
Từ những khởi đầu…
Nhớ lại những ngày đầu, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong không khí tưng bừng, hào hứng của một đất nước mới giành độc lập, nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật được tổ chức để chào mừng Cách mạng thành công đã mang lại niềm vui mừng, phấn khởi cho các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn. Thời kỳ này, múa chưa là một bộ phận nghệ thuật độc lập nên trong các đêm ca nhạc, chỉ có một số tiết mục múa dân gian, dân tộc hoặc múa phụ họa, minh họa cho các làn điệu hát chèo, hay các bài ca mới, như múa cờ, múa quạt, múa trống mõ, xênh tiền… múa mới chỉ có vũ khúc tưng bừng trong chương trình ca nhạc của các nhạc sĩ Minh Tâm, Lương Ngọc Trác… (tư liệu từ sách “Nghệ thuật múa Việt Nam” của cố GS.TS NSƯT Lâm Tô Lộc)… Tất cả “diễn viên múa” đều do những người yêu văn nghệ quần chúng tham gia.

Kịch múa “Ngọn lửa Hà Thành” (kịch bản: Thái Phiên, biên đạo: NSND Công Nhạc) - một trong những tác phẩm tiêu biểu trong việc tiếp thu nghệ thuật múa thế giới - Ảnh: Thái Phiên
Bước khởi đầu tốt đẹp đó đã được người xem hồ hởi đón nhận và các cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật cũng quan tâm, chú ý đến bộ môn nghệ thuật này, để có những quyết sách, định hướng cho việc xây dựng và phát triển nghệ thuật múa chuyên nghiệp sau này. Trong Đề cương văn hóa cách mạng Việt Nam của Đảng năm 1943 (do cố Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo) đã có chủ trương phát triển văn hóa nghệ thuật các dân tộc Việt Nam trên cơ sở thừa kế vốn tinh hoa độc đáo của nghệ thuật dân gian truyền thống, đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới đưa nền văn hóa nghệ thuật cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và tiên tiến theo kịp thời đại. Chủ trương sáng suốt, đúng đắn đó sau khi công bố chính thức (1948) thực sự là kim chỉ nam để các ngành, các bộ môn văn học nghệ thuật nước ta nghiêm chỉnh thực hiện và đạt được nhiều thành tích, kết quả tốt đẹp.
Riêng trong lĩnh vực múa, chúng ta đã có được những bước tiến khá nhanh chóng. Thời kỳ trước đây, nghệ thuật múa thế giới vẫn còn khá xa lạ với chúng ta. Ở Hà Nội và một vài thành phố lớn, có dăm ba phu nhân sĩ quan, viên chức Pháp theo chồng sang Việt Nam cũng mở lớp dạy tại gia múa ballet hoặc các điệu nhảy (khiêu vũ) cổ điển cho tầng lớp thượng lưu ở đô thị nhưng đó cũng chỉ là những hoạt động nghiệp dư, tự phát. Bà Thẩm Đôn Thư – một người từng học múa ở Anh quốc đã được trưng dụng ngay từ ngày đầu hòa bình (1954) khi các đoàn văn công chuyên nghiệp trở về Thủ đô để huấn luyện cơ bản ballet cho các diễn viên múa. Từ sau chiến thắng Thu Đông – Biên giới 1950, nước ta được mở rộng quan hệ ngoại giao với quốc tế, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho các đoàn nghệ thuật của nước ta ra nước ngoài biểu diễn giao lưu, trao đổi văn hóa. Chúng ta cũng được học hỏi, tập luyện một số tiết mục múa nước ngoài như Ương ca, Nông tác vũ… của Trung Quốc; múa lụa, múa quạt (Triều Tiên)… và đem về nước biểu diễn. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những bước khởi đầu chập chững, mãi tới sau ngày hòa bình lập lại trên 1/2 đất nước và sau Đại hội Văn công toàn quốc 1956 thì các đoàn nghệ thuật Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN thường xuyên sang lưu diễn ở nước ta, một số đoàn ca múa của trung ương, quân đội… đã cử nhiều diễn viên múa theo đoàn bạn học tập những điệu múa nước ngoài như: Cô gái thêu hoa, Những anh chàng không may, Kị binh Tây Tạng, Tân Cương… để đưa vào chương trình biểu diễn của đơn vị mình. Mặt khác, chúng ta lại được đón nhiều chuyên gia múa nước ngoài như Kim Tế Hoàng, Chu Huệ Đức của Triều Tiên; Galina Brunak, Mustaiep, Ibraghim, Kulbubu, Vladimia Pak… của Liên Xô sang trực tiếp giảng dạy cơ bản múa ballet tính cách…; sáng tác, dàn dựng các tác phẩm múa cho Đoàn ca múa nhân dân Trung ương, Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị và Trường Múa Việt Nam.
Cũng trong thời gian này, những cán bộ, diễn viên nòng cốt được cử đi học ở Học viện Múa Bắc Kinh – Trung Quốc về nước đã trở thành những biên đạo, nhà giáo của trường Múa Việt Nam, trường Nghệ thuật Quân đội mang những kiến thức, kỹ thuật chuyên môn của múa cổ điển châu Âu về giảng dạy, đào tạo nên các thế hệ diễn viên, học sinh chuyên nghiệp. Thời kỳ này ở nước ta múa ballet (cổ điển châu Âu) có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nghệ thuật múa chuyên nghiệp. Diễn viên, học sinh múa rất thích học ballet, các nhà biên đạo cũng cố tìm cách đưa chất liệu, ngôn ngữ múa ballet vào các tác phẩm của mình, cho đó là tiên tiến, là thức thời để tạo nên những tác phẩm có sức sống sinh động, hấp dẫn…
Liên tiếp những năm sau đó, nhiều cán bộ, học sinh xuất sắc được cử đi nghiên cứu, du học tại Liên Xô, Triều Tiên, Bungari… phần đông khi trở về nước đều đã trưởng thành, là những biên đạo, giáo viên xuất sắc của ngành múa Việt Nam, mang những kiến thức thu nhận được ở nước ngoài về áp dụng trong giảng dạy và thể hiện trong các tác phẩm sáng tác, dàn dựng của mình. Không ít tác phẩm múa của biên đạo Việt Nam ngày ấy có dáng dấp của ballet châu Âu về bố cục, kết cấu tổ hợp và cả chất liệu ngôn ngữ.
Cũng trong thời gian này, những cán bộ, diễn viên nòng cốt được cử đi học ở Học viện Múa Bắc Kinh – Trung Quốc về nước đã trở thành những biên đạo, nhà giáo của trường Múa Việt Nam, trường Nghệ thuật Quân đội mang những kiến thức, kỹ thuật chuyên môn của múa cổ điển châu Âu về giảng dạy, đào tạo nên các thế hệ diễn viên, học sinh chuyên nghiệp. Thời kỳ này ở nước ta múa ballet (cổ điển châu Âu) có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nghệ thuật múa chuyên nghiệp. Diễn viên, học sinh múa rất thích học ballet, các nhà biên đạo cũng cố tìm cách đưa chất liệu, ngôn ngữ múa ballet vào các tác phẩm của mình, cho đó là tiên tiến, là thức thời để tạo nên những tác phẩm có sức sống sinh động, hấp dẫn…
Liên tiếp những năm sau đó, nhiều cán bộ, học sinh xuất sắc được cử đi nghiên cứu, du học tại Liên Xô, Triều Tiên, Bungari… phần đông khi trở về nước đều đã trưởng thành, là những biên đạo, giáo viên xuất sắc của ngành múa Việt Nam, mang những kiến thức thu nhận được ở nước ngoài về áp dụng trong giảng dạy và thể hiện trong các tác phẩm sáng tác, dàn dựng của mình. Không ít tác phẩm múa của biên đạo Việt Nam ngày ấy có dáng dấp của ballet châu Âu về bố cục, kết cấu tổ hợp và cả chất liệu ngôn ngữ.
Đến những dấu ấn
Việc tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật múa tiên tiến thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển ngành múa Việt Nam. Nhiều tác phẩm múa các thể loại được ra đời, trong số đó có những vở kịch múa gây được ấn tượng mạnh, đạt được những thành công tốt đẹp do có sự tiếp thu, vận dụng đúng đắn, bài bản, khoa học… của nghệ thuật múa nước ngoài. Hai vở kịch múa đầu tiên của chúng ta “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh”, “Tấm Cám” do chuyên gia Triều Tiên Kim Tế Hoàng chỉ đạo dàn dựng đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm 2001.
Trong các vở kịch múa, biên đạo đã sử dụng nhiều kỹ thuật, kỹ xảo quay nhảy, bê đỡ và cả kỹ thuật múa trên giày mũi cứng một cách sáng tạo, hợp lý. Vai múa Nàng Tiên Ốc trong kịch múa “Bả Khó” của cố NSND Thái Ly sử dụng kỹ thuật giày mũi cứng như bay bổng trên không mang tính huyền thoại của vai diễn; công chúa trong vở “Ngọn lửa Hà thành” cũng được NSND Nguyễn Công Nhạc sử dụng kỹ thuật này khi biên tổ hợp múa công chúa với các thị nữ, với ý đồ phân biệt đẳng cấp “lá ngọc cành vàng” của công chúa…
Trong các vở kịch múa, biên đạo đã sử dụng nhiều kỹ thuật, kỹ xảo quay nhảy, bê đỡ và cả kỹ thuật múa trên giày mũi cứng một cách sáng tạo, hợp lý. Vai múa Nàng Tiên Ốc trong kịch múa “Bả Khó” của cố NSND Thái Ly sử dụng kỹ thuật giày mũi cứng như bay bổng trên không mang tính huyền thoại của vai diễn; công chúa trong vở “Ngọn lửa Hà thành” cũng được NSND Nguyễn Công Nhạc sử dụng kỹ thuật này khi biên tổ hợp múa công chúa với các thị nữ, với ý đồ phân biệt đẳng cấp “lá ngọc cành vàng” của công chúa…
Rất nhiều biên đạo đã mạnh dạn vận dụng những kiến thức đã học ở nước ngoài để sáng tác những tác phẩm múa một cách hợp lí, không sống sượng mang lại hiệu quả hấp dẫn, sinh động cho vở diễn.
Kỹ thuật múa của diễn viên cũng được tăng tiến một cách đáng kể. Nhiều nghệ sĩ, diễn viên xuất sắc không chỉ thể hiện trong các tác phẩm múa Việt Nam mà còn có khả năng biểu diễn những vở ballet kinh điển của nước ngoài như ballet Suralie của Iarulin Liên Xô do chuyên gia Galina Brunak dàn dựng ở trường Múa Việt Nam năm 1961; hay các vở ballet “Giden” (ADan); “Spactac” (Khasaturian); “Hồ thiên nga” (TChaicopxky); “Cô tiểu thư và chàng trai du đãng” (Sotxtacovich)… do chuyên gia Liên Xô M.Kapxtanat dàn dựng ở Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam từ 1982 – 1985… là những minh chứng sống động, những thành tựu to lớn của ngành múa Việt Nam.
Từ sau năm 1985, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, với xu thế hội nhập, nghệ thuật múa nước ta cũng có những chuyển biến mới. Đoàn ballet Phương Bắc Australia, bà Cheryl Stock là những “sứ giả múa hiện đại” đầu tiên đến với chúng ta. Sau đợt lưu diễn bà còn ở lại dàn dựng đưa đội múa Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam sang biểu diễn ở Australia; đưa một vài nghệ sĩ, giáo viên nước ta sang tu nghiệp, thực tập tìm hiểu nghệ thuật múa hiện đại… rồi tiếp sau là các đoàn múa hiện đại của Pháp, Hồng Kông, Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… cũng mang đến nước ta những chương trình múa hiện đại tạo nên một làn sóng mới trong ngành múa chúng ta. Nhiều giáo viên, biên đạo, diễn viên của chúng ta đã đi nước ngoài thực tập, tu nghiệp… và trong các sáng tác múa của mình đã đi theo phong cách, khuynh hướng múa hiện đại.
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam; khoa múa trường Đại học VHNT Quân đội, trường Múa TP. Hồ Chí Minh đã đưa múa hiện đại vào chương trình giảng dạy, trở thành môn học chính thức. Chúng ta đã phối hợp với các nước Đức, Pháp, Đan Mạch… tổ chức được 5 cuộc Liên hoan gặp gỡ, giao lưu Múa Hiện đại Âu – Á tại Nhà hát Tuổi trẻ Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh…; đặc biệt là cuộc Liên hoan Múa quốc tế lần đầu tiên đang diễn ra tại Ninh Bình. Nhiều chương trình múa đương địa được dàn dựng và biểu diễn với các tên tuổi biên đạo như: NSND Anh Phương, Trần Ly Ly, NSƯT Hồng Phong, Văn Hiền, Anh Đức, Hà Thái Sơn, Tấn Lộc, Phương Lịch, Cao Đức Toàn, Phúc Hùng, Phúc Hải, Ngô Thanh Phương… nhiều tác phẩm múa hiện đại đã được giải thưởng, huy chương trong các hội thi, hội diễn, liên hoan Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc như: Thiền, Nữ Thần Đen (biên đạo: Trần Ly Ly); Màu xanh bất diệt (Hà Thế Dũng); Paxưm (Văn Hiền)… Nghệ thuật múa hiện đại được du nhập từ nước ngoài nhưng dần dần đã có chỗ đứng ở Việt Nam, mang được “hồn dân tộc” và sức sống mới cho sân khấu múa hôm nay.
Còn đó những bất cập
Trong việc tiếp thu, học tập các dòng nghệ thuật múa tiên tiến của thế giới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực: huấn luyện, sáng tác và biểu diễn… Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cũng không thể tránh khỏi những điều bất cập.
Ở thời kỳ đầu, khi tiếp thu dòng múa ballet cổ điển, bác học không ít tác giả đã vội vã đưa các chất liệu múa này vào trong sáng tác của mình một cách sống sượng, gượng ép. Kỹ thuật quay – nhảy, bê đỡ được sử dụng khá tùy tiện, thô thiển, phi lí… Nhiều đơn vị, diễn viên chưa nắm vững kỹ thuật, kỹ xảo ballet cũng “bị” biên đạo “ép” thể hiện nên rất vụng về, lung túng! Có đôi múa khi bê đỡ trong tư thế “mặt đối mặt” thì cô gái loạng choạng, run rẩy, ngả áp vào mặt bạn diễn gây nên tiếng cười chua chát cho khán giả (múa “Qua sông” – Đoàn Sông Bé – Hội diễn 1981 tại TP. Hồ Chí Minh)…
Múa hiện đại thời kỳ đầu mới du nhập, phần nhiều các tiết mục đều do biên đạo nước ngoài dàn dựng hoặc các tác giả của ta sử dụng trên nền âm nhạc nước ngoài; múa sao chép, vay mượn hoàn toàn của bạn. Múa của người Việt Nam mà các nhân vật ra sân khấu với vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm; diễn viên “lăn đùng, ngã ngửa, giãy đành đạch” rất vô lối, phản cảm. Nhiều tác phẩm gây cho người xem cảm giác đó là múa của nước ngoài được sao chép qua băng hình, nếu có chút hơi hướng Việt Nam chỉ là thay thế bằng các trang phục dân tộc mà thôi. Những bất cập này tồn tại khá lâu và kể cả một số tiết mục được đưa ra công diễn ở liên hoan, hội diễn, cuộc thi chuyên nghiệp. Lẽ đương nhiên các tiết mục này không thể được đánh giá cao và đôi khi cũng tạo nên nỗi ấm ức, bức xúc… của tác giả.
Trong nhiều năm qua việc tiếp thu, học tập nghệ thuật múa tiên tiến của thế giới đã giúp chúng ta đạt được nhiều thành tựu tốt đẹp trong sự nghiệp phát triển nghệ thuật múa Việt Nam. Song chúng ta vẫn cần phải tỉnh táo, thận trọng, sáng suốt hơn nứa trong khi vận dụng, hành nghề, tránh được những sự bất cập: vay mượn, sao chép, rập khuôn các tác phẩm múa của bạn thì mới có thể góp phần thích đáng trong việc giữ gìn, bảo vệ được những vẻ đẹp tinh hoa, bản sắc của nghệ thuật múa các dân tộc Việt Nam…