Chính sách - Quản lý

Từ mạch nguồn văn hóa đến sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Phúc Hải • 11:56 02/11/2026

Kỷ niệm 80 năm Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946 – 24/11/2026), Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) là dịp nhìn lại những dấu mốc có ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử dân tộc. Từ tư tưởng văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi đến truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, những giá trị được hun đúc qua các thời kỳ tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

2.jpg
Các đại biểu dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tháng 11/1946. Ảnh tư liệu.

Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất – dấu mốc mở đường cho nền văn hóa mới

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, đồng thời đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong bối cảnh đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa mới, xác định văn hóa có vai trò quan trọng trong củng cố nền độc lập, khơi dậy sức mạnh dân tộc và phục vụ công cuộc kiến thiết đất nước.

Kế thừa những định hướng văn hóa của Đảng, đặc biệt là Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943 với ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa, ngày 24/11/1946, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn, một số thành viên Chính phủ và hơn 200 đại biểu đại diện giới hoạt động văn hóa ba miền Bắc, Trung, Nam.

Hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong việc tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người hoạt động văn hóa, thống nhất nhận thức, định hướng hành động, gắn sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới với nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc. Đặc biệt, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” đã thể hiện sâu sắc vai trò định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.

Không chỉ mang ý nghĩa lịch sử trong bối cảnh năm 1946, những tư tưởng được khẳng định tại Hội nghị còn đặt nền tảng cho quá trình hình thành, phát triển đường lối văn hóa của Đảng, tiếp tục được kế thừa và bổ sung qua các thời kỳ cách mạng.

Từ tư tưởng năm 1946 đến những quyết sách chiến lược về phát triển văn hóa

Sau Hội nghị năm 1946, thực tiễn kháng chiến chống thực dân Pháp đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp văn hóa. Văn hóa trở thành một mặt trận quan trọng, góp phần bảo vệ nền độc lập, xây dựng đời sống và con người mới. Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, diễn ra từ ngày 16 đến ngày 20/7/1948 tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ (nay thuộc xã Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ), tiếp tục xác định phương hướng phát triển văn hóa gắn với nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc.

Trong các giai đoạn tiếp theo, những quan điểm nền tảng về vai trò của văn hóa không ngừng được kế thừa, phát triển, gắn với nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, xây dựng đời sống mới, bảo tồn truyền thống tốt đẹp và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Ngày 24/11/2021, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ ba được tổ chức nhân kỷ niệm 75 năm Hội nghị lần thứ nhất, nhằm triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hội nghị tiếp tục khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng về phát triển văn hóa, quy tụ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa, thúc đẩy văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm 2026, kỷ niệm 80 năm Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ra trong bối cảnh tư duy và chính sách phát triển văn hóa tiếp tục được hoàn thiện. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam; Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Những quyết sách này tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để khơi thông nguồn lực, đồng bộ cơ chế và thúc đẩy phát triển văn hóa toàn diện.

Từ tư tưởng được xác lập năm 1946 đến những quyết sách hôm nay, quan điểm nhất quán về vai trò của văn hóa tiếp tục được khẳng định: văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn, gìn giữ mà còn là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Ngày Văn hóa Việt Nam – tôn vinh giá trị dân tộc, lan tỏa cơ hội thụ hưởng văn hóa

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam được hình thành, bồi đắp, kết tinh những giá trị nhân văn cao đẹp, hun đúc tâm hồn, khí phách và bản lĩnh con người Việt Nam. Văn hóa vừa lưu giữ ký ức lịch sử, bản sắc dân tộc, vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn sức mạnh nội sinh để củng cố khối đại đoàn kết, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước.

Nhận thức sâu sắc vai trò đó, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đặt nền móng quan trọng cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, đồng thời là trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 24/4/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, xác lập ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam. Theo đó, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương; người dân được miễn hoặc giảm phí, lệ phí dịch vụ tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập vào ngày này.

Việc xác lập Ngày Văn hóa Việt Nam thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, con người Việt Nam; đồng thời tạo thêm cơ hội để Nhân dân tiếp cận, sáng tạo, thực hành và thụ hưởng các giá trị văn hóa. Đây cũng là dịp tôn vinh bản sắc dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tăng cường gắn bó của cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước với quê hương, đất nước.

Ngày Văn hóa Việt Nam hướng tới từng bước trở thành ngày hội văn hóa của toàn dân, trong đó mỗi người vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, trao truyền, vừa là người thụ hưởng các giá trị văn hóa. Vì vậy, các hoạt động hưởng ứng cần được tổ chức thiết thực, đa dạng, phù hợp với đặc điểm từng địa phương, vùng miền; gắn bảo tồn di sản với đổi mới, sáng tạo, phát huy vai trò của văn nghệ sĩ, trí thức và cộng đồng trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc – nơi hội tụ sức mạnh cộng đồng

Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp và lực lượng yêu nước, tạo sức mạnh chung cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Trong thời kỳ 1930-1945, tổ chức Mặt trận lần lượt mang những tên gọi như Hội Phản đế đồng minh, Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, Mặt trận Dân chủ Đông Dương và Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh), ra đời tháng 5/1941. Đặc biệt, Việt Minh đã tập hợp, động viên các tầng lớp Nhân dân vùng lên Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập. Tháng 3/1951, Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên - Việt. Sau Hiệp định Giơnevơ, ngày 10/9/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời ngày 20/12/1960; tiếp đó, ngày 20/01/1968, Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam được thành lập, tiếp tục mở rộng lực lượng đoàn kết ở miền Nam.

Sau ngày đất nước thống nhất, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất họp từ ngày 31/01/1977 đến ngày 04/02/1977 quyết định thống nhất ba tổ chức Mặt trận, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trải qua 96 năm xây dựng và phát triển, Mặt trận luôn phát huy vai trò tập hợp các tầng lớp Nhân dân thành khối đoàn kết thống nhất, tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp cách mạng.

Nhằm phát huy vai trò cộng đồng dân cư và gắn hoạt động của Mặt trận với đời sống Nhân dân, từ năm 2003, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức tại các khu dân cư nhân dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11). Qua thời gian, Ngày hội trở thành hoạt động chính trị - xã hội có ý nghĩa thiết thực, góp phần tăng cường gắn bó giữa các gia đình, dòng họ và các tầng lớp Nhân dân.

Giá trị của Ngày hội trước hết thể hiện ở việc củng cố khối đại đoàn kết từ cơ sở, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các lực lượng nòng cốt trong tập hợp, vận động Nhân dân. Đây cũng là dịp để người dân đánh giá kết quả các phong trào thi đua, cuộc vận động, đóng góp ý kiến, đề xuất sáng kiến, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, qua đó phát huy dân chủ ở cơ sở và tăng cường đồng thuận xã hội.

Đặc biệt, tinh thần đoàn kết được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực như hỗ trợ phát triển sản xuất, giảm nghèo, khuyến học, bảo vệ môi trường, chăm lo người có hoàn cảnh khó khăn và xây dựng đời sống văn hóa. Các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, biểu dương gương điển hình còn góp phần bồi đắp tình làng nghĩa xóm, lan tỏa tinh thần tương thân, tương ái và trách nhiệm cộng đồng.

Phát huy giá trị văn hóa và đại đoàn kết trong kỷ nguyên phát triển mới

Kỷ niệm 80 năm Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Ngày Văn hóa Việt Nam và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là dịp ôn lại truyền thống mà còn đặt ra yêu cầu chuyển hóa những giá trị lịch sử, tư tưởng thành hành động cụ thể. Văn hóa bồi đắp nền tảng tinh thần, định hình hệ giá trị và tạo sự gắn kết; đại đoàn kết tạo môi trường để các giá trị văn hóa được gìn giữ, trao truyền và phát huy. Sự kết hợp giữa hai nguồn sức mạnh này có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về văn hóa, con người Việt Nam và đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân. Việc học tập, quán triệt phải gắn với thực hành chuẩn mực văn hóa, đạo đức, lối sống, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu và cán bộ, đảng viên.

Cùng với đó, cần phát huy giá trị Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bảo tồn di sản, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật và mở rộng cơ hội tiếp cận văn hóa của Nhân dân. Chú trọng xây dựng văn hóa trong gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn, quảng bá và cung cấp sản phẩm, dịch vụ văn hóa, đồng thời xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng.

Đối với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức theo hướng gần dân, sát cơ sở, thiết thực, tiết kiệm, khắc phục tình trạng hình thức, hành chính hóa. Phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để người dân tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến, giám sát các nhiệm vụ tại địa phương; tăng cường đối thoại, lắng nghe và kịp thời kiến nghị giải quyết những nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Đặc biệt, cần gắn phát triển văn hóa với củng cố khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh cộng đồng trong phát triển kinh tế - xã hội. Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh cần gắn với những mục tiêu cụ thể như phát triển sinh kế, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, giữ gìn di sản và chăm lo người yếu thế. Đồng thời, đổi mới công tác tuyên truyền, kết hợp hiệu quả giữa báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin cơ sở với các nền tảng số và mạng xã hội; chú trọng lan tỏa những mô hình, nhân vật và việc làm thiết thực trong đời sống.

Để các chủ trương đi vào thực tiễn, cần xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực thực hiện; tăng cường phối hợp, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả trên cơ sở mức độ tham gia của người dân, chất lượng hoạt động, sự chuyển biến của môi trường văn hóa và mức độ đồng thuận xã hội. Qua đó, bảo đảm các hoạt động được triển khai thực chất, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí.

Tám mươi năm kể từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tư tưởng “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” vẫn giữ nguyên giá trị định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc qua 96 năm xây dựng và phát triển của Mặt trận tiếp tục khẳng định sức mạnh của sự đồng lòng, chung sức. Phát huy những giá trị đó, mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi người dân cần biến nhận thức thành hành động cụ thể, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, môi trường văn hóa lành mạnh, cộng đồng đoàn kết, nghĩa tình; khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng cống hiến, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng./.

Phúc Hải