Kỳ 2: Âm mưu đánh tráo khái niệm, phủ định tinh thần yêu nước là giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc Việt Nam
Đại hội XIV của Đảng đã đưa văn hoá thành nguồn lực nội sinh quan trọng và khơi dậy tinh thần trách nhiệm; làm sáng rõ vai trò của văn nghệ sĩ với việc phát triển văn hoá trong thời đại mới. Đồng thời, Đảng ta cũng có những chính sách ưu việt chăm lo đời sống văn nghệ sĩ. Ấy vậy mà, với mục đích ích kỷ nhằm làm suy yếu “sức mạnh mềm” của dân tộc ta, các thế lực thù địch vẫn ngoan cố ra sức chống phá bằng những luận điệu vô cùng xảo trá.




Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, hội nhập,… đã làm biến đổi không gian, thay đổi chủ thể văn hoá, làm cho không gian văn hoá có nguy cơ biến mất, giá trị văn hoá bị thay đổi, một số giá trị văn hoá mới hình thành, lấn át giá trị văn hoá truyền thống,… Nhiều nơi không còn làng nghề, phố nghề, các tục lệ, lễ hội; các loại hình nghệ thuật truyền thống dần mai một,… Vì vậy, vừa qua Đảng ta đã có nhiều cơ chế chăm lo đời sống sáng tác của văn nghệ sĩ bởi đây là lực lượng chủ lực lưu giữ, phát triển di sản và tham gia sáng tạo bổ sung những giá trị mới… Nghị quyết của Đảng đã nêu cao vai trò, động viên văn nghệ sĩ tích cực hoạt động sáng tạo để khắc phục tính tự phát, nhỏ lẻ và thiếu chủ thể có tầm “nhạc trưởng” như trước kia.

Với mục đích thúc đẩy văn nghệ sĩ tham gia vào công nghiệp văn hoá, vừa qua Đảng đã có những chính sách tuyên truyền, giáo dục nâng cao thay đổi nhận thức trong việc sáng tạo tác phẩm nghệ thuật để nghệ sỹ thấy được tiềm năng kinh tế từ tác phẩm. Những năm qua Đảng đã có cơ chế đồng bộ, hiệu quả hơn đầu tư cho các Hội Văn học nghệ thuật từ trung ương đến địa phương (mái nhà chung của văn nghệ sĩ). Tiêu biểu là trong cuộc cách mạng Quy hoạch báo chí toàn quốc, Nhà nước đã có chính sách đặc thù cho cơ quan ngôn luận của các Hội Văn nghệ tiếp tục phát triển. Tạp chí văn nghệ là diễn đàn, “cái nôi” để những “đứa con tinh thần” của văn nghệ sĩ có cơ hội tương tác đa chiều với công chúng.


Được chính sách của Đảng “mở đường”, các Hội văn học nghệ thuật cũng đẩy mạnh đổi mới nội dung phương thức hoạt động; nâng cao chất lượng hội thảo, toạ đàm, tăng cường nguồn lực đầu tư cho sáng tác đặc biệt là xây dựng cơ chế đặt hàng phát huy tiềm năng đội ngũ nghệ sĩ. Các Hội văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả các trại sáng tác, đẩy mạnh liên kết giữa các hội chuyên ngành, xây dựng các quỹ hội viên thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực văn nghệ. Nhiều Hội văn học nghệ thuật có cơ chế đặc thù vượt trội phát hiện bồi dưỡng, ưu tiên cho nguồn lực văn nghệ sĩ trẻ, tài năng.


Từ bao đời, truyền thống yêu nước đã trở thành động lực để mỗi người dân cảm nhận và chuyển hoá thành hành động thiết thực. Đất nước bước vào kỷ nguyên mới chỉ hưng thịnh khi văn hoá yêu nước được khơi dậy, quy tụ người tài đức dốc lòng vì nước vì dân… Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật đều hướng tới giá trị chân - thiện- mỹ nên việc tôn vinh các giá trị nghệ thuật truyền thống cũng là tăng cường “sức đề kháng”, lấy cái đẹp dẹp cái xấu. Nếu coi nhà văn là “thư ký trung thành của thời đại” thì vai trò và trách nhiệm của văn nghệ sĩ sống trong kỷ nguyên mang tính lịch sử này càng cao hơn, đòi hỏi sự sáng tạo, cống hiến tận tâm hơn để có những tác phẩm mang hơi thở thời đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là những tác phẩm thể hiện lòng tự hào, tình yêu nước ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, đề cao lòng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình, tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống và đề cao đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động được phát triển thêm giá trị mới thời chúng ta đang sống. Với ý nghĩa đó, những chính sách của Đảng đều nhằm động viên văn nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm văn học nghệ thuật cổ vũ lòng yêu nước trong mỗi trái tim người Việt.


Từ chính sách của Đảng về phát triển văn hoá sẽ khơi dậy tình yêu nước, ý chí tự cường dân tộc để rồi lan toả ngọn lửa cống hiến dựng xây mảnh đất quê hương. Vậy mà hiện nay, các thế lực thù địch dùng những thủ đoạn xuyên tạc đi ngược lại ý nghĩa tốt đẹp đó. Chúng cho rằng Đảng lãnh đạo văn hoá sẽ làm mất tính độc lập của văn nghệ sĩ, áp đặt quan điểm chính trị vào trong văn học nghệ thuật. Chúng tự huyễn hoặc việc ban hành các nghị quyết về phát triển văn hoá là mục đích chính trị của giai cấp lãnh đạo, không coi trọng nhu cầu của Nhân dân. Chúng cho rằng công chúng cần hưởng thụ những tác phẩm được sinh ra khi văn nghệ đắm chìm trong cái gọi là buông thả cảm xúc. Chúng vu cáo Đảng ta đã gạt Nhân dân ra ngoài quá trình hình thành và ban hành chính sách về văn hoá.

Trong công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay, các luồng văn hoá rất đa dạng du nhập vào Việt Nam, việc các thế lực vị kỷ điên cuồng tung hô xuyên tạc vì chúng không muốn chứng kiến đất nước ta lớn mạnh. Các thành phần ngạo mạn muốn xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm mục đích sâu kín là làm suy kiệt “sức đề kháng” ý chí dân tộc bằng thủ pháp ngôn từ của cái gọi là “tự do sáng tạo văn học nghệ thuật”. Hành động đen tối đó nhằm tạo điều kiện cho văn hoá đồi truỵ thực dụng tràn vào từng nếp nhà, trong ý nghĩ để phá vỡ đạo lý tốt đẹp của ta; mở cửa cho chủ nghĩa cá nhân thực dụng cực đoan, cổ suý lối sống trà đạp lên luân thường... Từ việc phủ nhận sạch trơn các chính sách của Đảng góp phần tích cực cổ vũ văn nghệ sĩ sáng tác, chúng tiếp tục dùng những diễn đàn cái gọi là tự do ngôn luận văn học nghệ thuật để lồng ghép các luận điệu sai trái kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt trong tư tưởng văn nghệ sĩ.

Đây là những “đòn đánh” tâm lý tinh vi của “diễn biến hoà bình”. Với các chiêu trò “đánh tráo khái niệm” sẽ làm không ít người hoang mang, thậm chí quay ngược lại nghi ngờ chính nhận thức của bản thân mình về nòi giống cùng lịch sử mà tổ tiên đổ bao xương máu; dày công vun đắp. Để rồi làm suy nhược cốt cách tâm hồn người Việt. Những lập luận vô lý của chúng mục đích làm thế hệ trẻ không còn thấy tự hào về trang sử hào hùng của cha ông mình, làm nhụt ý chí vươn lên xây dựng đất nước. Lâu dần chúng làm cho con cháu chúng ta hoài nghi, mặc cảm tự ti về quá khứ và lung lạc lòng tự tôn dân tộc.
Trước xu thế hội nhập toàn cầu các luồng văn hoá có cơ hội giao lưu và tiếp biến. Vấn đề đặt ra làm thế nào để văn hoá chúng ta không những bị lấn át mà còn phát huy lan toả là điều không hề dễ dàng. Chính vì vậy Đảng ta đã có những chính sách sáng suốt khi đặt văn hoá ở vị trí trung tâm của sự phát triển và coi văn nghệ sĩ là “nhân vật” chính trong đội ngũ chủ đạo phát triển văn hoá. Với vai trò chủ thể của mình đã được Đại hội Đảng XIV xác định, đây là chất “xúc tác” giúp đội ngũ văn nghệ sĩ nâng cao trách nhiệm tìm tòi để có tác phẩm mang giá trị tư tưởng nghệ thuật thấm nhuần tinh thần nhân văn, bản sắc dân tộc, phản ánh chân thật sinh động sâu sắc đời sống lịch sử đất nước trong kỷ nguyên mới, từng bước xây dựng hoàn thiện hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam…

Không chỉ thêu dệt, đặt điều các chủ trương của Đảng là o ép văn nghệ sĩ sáng tác mà hiện nay, những kẻ chống phá còn ngang nhiên làm vấy bẩn giá trị cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc là tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng tập trung các luận điệu chiêu trò hạ thấp giá trị văn hoá truyền thống yêu nước của dân tộc ta bằng giọng điệu, người dân của dân tộc, quốc gia nào mà chẳng yêu nước của họ(?!). Sau đó, chúng suy diễn rằng, giá trị yêu nước của chúng ta chẳng có gì đáng nói cả. Đây là một hành vi xáo ngôn đê hèn nhằm đánh tráo khái niệm. Những kẻ cơ hội chính trị đã cố tình bóp méo lèo lái đánh đồng tinh thần yêu nước của người Việt Nam cũng giống như khái niệm yêu nước chung chung, là tình cảm tự nhiên của con người... Đặc biệt, chúng lu loa trắng trợn rằng Việt Nam là dân tộc mất nguồn cội, thấp kém, “văn hoá chắp vá, lờ mờ”. Bọn chúng còn bôi nhọ lãnh đạo, phỉ báng các lễ hội, tục lệ dân gian của nhân dân ca ngợi công ơn những anh hùng dân tộc. Không những thế, chúng còn lợi dụng danh nghĩa “nghiên cứu”, để tự nhận cái gọi là “giải mã” hình tượng văn học dân gian để bóp méo thần tượng anh hùng như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng. Thời gian vừa qua còn có những cuốn sách bị nhà nước thu hồi do có thông tin sai sự thật, bôi nhọ hình ảnh Đức thánh Trần Hưng Đạo và Chủ tịch Hồ Chí Minh… Chúng đã xuyên tạc lịch sử, biến lãnh tụ thành tầm thường, có khiếm khuyết. Chúng làm thế nhằm xói mòn lòng tự hào, phủ nhận bản chất hào hùng, truyền thống bất khuất của dân tộc ta.


Tuy nhiên, chúng cố tình phớt lờ sự thật tình yêu nước của người Việt không chỉ là khái niệm hiện tượng tình cảm đạo đức đơn thuần mà đã trở thành triết lý, thành chủ nghĩa, thậm chí là “gen di truyền” của người Việt đã được khởi sinh và nuôi dưỡng từ hàng nghìn năm qua. Chính vì vậy yêu nước mới là đỉnh cao nhất của hệ giá trị văn hoá dân tộc.
Từ xa xưa, công cuộc chinh phục, chống thiên tai, đã thúc đẩy tinh thần người Việt gắn kết cộng đồng chặt chẽ (truyện Sơn tinh, Thuỷ tinh) nên yêu nước của người Việt rất khác, nó vừa chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm, từ yêu nước tạo thành văn hoá giữ nước. Khác với văn hoá của một số nước là “Trung quân ái quốc”, trung với vua (chủ) là yêu nước. Chữ hiếu ở một số quốc gia dân tộc là hiếu với cha mẹ… Mở đầu bài Hịch Tướng Sĩ, Trần Hưng Đạo đã nêu các tấm gương người Trung Quốc chết vì chủ: “Ta thường nghe, Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế, Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương, Dự Nhượng nuốt than báo thù cho chủ”…
Còn ở Việt Nam là trung với nước, hiếu với dân chứ không phải trung với chủ. Vì vậy mỗi khi có giặc ngoại xâm là toàn dân vùng lên đánh giặc. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” … “hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh Thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác… Và từ lời kêu gọi ấy, đã có hàng triệu người con nước Việt anh dũng cầm súng lên đường ra trận bảo vệ non sông, bảo vệ khí tiết, nhân phẩm dân tộc mình như lời trong bài thơ “Việt Nam máu và hoa” của Tố Hữu: “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hoá vàng nhân phẩm, lương tâm”.



Lịch sử đã chứng minh truyền thống yêu nước thấm sâu vào con dân nước Việt, trở thành niềm tin, lẽ sống để vượt qua nguy hiểm, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho Tổ quốc. Tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần yêu nước ấy đã được hiện thực hoá bằng cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sinh ra và lớn lên từ một miền quê nghèo, thấy cảnh lầm than của người dân mất nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Và, ngày 5/6/1911 với tên Văn Ba, người thanh niên ấy đã rời quê hương khởi đầu hành trình cứu nước. Như vậy, chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam là cội nguồn, điểm xuất phát là động lực lên đường cứu nước và cũng là “bộ lọc” các học thuyết để Hồ Chí Minh chọn và tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại mà đỉnh cao là Chủ nghĩa Mác - Lênin, đúng như Bác đã nói “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê nin, tin theo quốc tế thứ 3”. Cũng chính tinh thần yêu nước ấy đã trở thành điểm tựa vĩ đại giúp Người vượt qua gian khó dẫn dắt Nhân dân ta vượt qua các cuộc trường chinh đi đến thắng lợi cuối cùng./.

Thực hiện: Trần Văn Chung/ Thiết kế: Minh Hương