Tản văn

Mẹ tôi

Nguyễn Thanh Hà - Phó HT trường TH Quang Trung • 09:18 19/10/2026

Năm ấy, anh trai tôi vừa tròn mười tám tuổi thì lên đường nhập ngũ. Anh mặc quân phục khoác ba lô lên đường vào Nam với nụ cười hồn nhiên của tuổi trẻ và lời hẹn sẽ trở về trong ngày chiến thắng. Không ai ngờ buổi tiễn đưa hôm ấy lại là lần cuối cùng mẹ tôi được nhìn thấy anh. Chỉ một năm sau, anh hy sinh tại Quảng Trị. Từ đó, trong lòng mẹ có một khoảng trống không gì khỏa lấp nổi.

Ban ngày, mẹ vẫn chăm lo cho gia đình, cố giữ vẻ bình thản trước các con; nhưng đêm xuống, mẹ lại cắn chặt góc chiếc gối cũ anh dùng khi nhỏ để kìm tiếng nấc, không biết bao nhiêu nước mắt của mẹ đã ngấm vào vỏ gối, ướt rồi khô rồi lại ướt. Bao nhiêu năm trôi qua, nỗi nhớ thương ấy vẫn âm thầm ở lại trong tim mẹ.

152604431.jpg
Ảnh minh họa.

Anh tôi là một trong những liệt sĩ đầu tiên được đưa về an nghỉ tại Nghĩa trang Trường Sơn, ở khu Hà Nội, giữa những người đồng chí, đồng đội. Sau ngày đất nước thống nhất, dù cuộc sống còn khó khăn và đường sá xa xôi, anh chị em chúng tôi vẫn cố thu xếp vào thăm anh. Khi anh nhập ngũ, chúng tôi đều còn nhỏ nên ký ức về anh không nhiều; vậy mà đứng trước ngôi mộ mang tên anh, chẳng ai cầm được nước mắt, cứ lưu luyến mãi mới đành lòng rời đi. Riêng mẹ, vì sức khỏe yếu nên chưa thể vào thăm con, nhưng lòng mẹ lúc nào cũng đau đáu hướng về Trường Sơn. Mỗi lần nhắc đến anh, nước mắt lại lặng lẽ chảy trên gương mặt mẹ.

Thương mẹ, chúng tôi bàn chuyện đưa anh về quê, để anh được nằm gần ông bà, tổ tiên và mẹ có thể thường xuyên đến thăm. Nhưng mẹ nói với chúng tôi rằng anh muốn ở lại nơi đây, bên đồng đội, những người đã cùng anh vào sinh ra tử, và rằng anh đã quen với mảnh đất linh thiêng này mất rồi. Năm tháng qua, nhìn mẹ sống trong khắc khoải chúng tôi không đành lòng, ai cũng muốn anh về quê để gần gụi gia đình, quây quần bên người thân. Khi nghe các con bàn nhau định thêm lần nữa vào xin anh cho cả nhà đưa anh về, mẹ bảo: “Cứ theo ý nó đi. Từ bé đến lớn nó toàn phải nhường nhịn các em, vâng lời cha mẹ, chưa lúc nào được mẹ chiều cả. Giờ để nó được làm theo ý nó, đừng ép nó tội nghiệp. Để mẹ vào với nó”. Nghe mẹ nói, chúng tôi thở dài, người anh cả của chúng tôi, hiền hậu, ngoan ngoãn lắm, sinh ra và lớn lên trong gia đình khó khăn, cùng cha mẹ trải qua bao vất vả, anh chưa từng đòi hỏi gì cho riêng mình. Từ khi anh mất đi, mẹ đã xót xa vì hoàn cảnh mà để anh phải chịu bao thiệt thòi, nên giờ mẹ muốn bù đắp, để anh được nằm lại Nghĩa trang Trường Sơn như ý anh mong muốn.

Trong những năm chưa được đến thăm anh, mẹ tìm đọc và chăm chú nghe mọi người kể chuyện về Nghĩa trang Trường Sơn. Mẹ đọc đến thuộc lòng rồi kể lại cho chúng tôi, và trong giọng kể ấy, bên cạnh nỗi nhớ con, dần có thêm một niềm hy vọng khó gọi thành tên. Có lẽ mẹ đã mong một lần được nhìn thấy anh vẫn hiện hữu ở đâu đó, gần mẹ, dù chỉ là thoáng qua.

Rồi ngày mong đợi cũng đến, chúng tôi đưa mẹ vào thăm anh. Trước ngôi mộ, mẹ ngồi lặng rất lâu, đôi bàn tay gầy run run vuốt đi vuốt lại không rời trên thành mộ như muốn chạm vào đứa con đã xa mình bao năm. Mẹ khóc đến lặng người. Chiều xuống, chúng tôi dìu mẹ đứng dậy nhưng mẹ lại khuỵu xuống, ôm lấy mộ anh mà gọi: “Dũng ơi, con ơi! Cho mẹ ở đây với nó một tý nữa, bao nhiêu năm mẹ xa con rồi, con ơi!”. Tiếng gọi ấy khiến tất cả chúng tôi không thể cầm lòng. Đến khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi mới đưa được mẹ rời nghĩa trang, nhưng vừa đi hết con đường dẫn lên đó, mẹ nhất quyết không về khách sạn đã thuê mà đòi ở lại một nơi gần anh nhất. Chúng tôi thương mẹ nên đành chiều theo.

Chiều hôm ấy, mẹ ăn qua loa rồi đi nằm sớm. Chúng tôi chuyện trò một lát và cũng về phòng nghỉ. Đêm ở nơi núi rừng rất yên tĩnh, không gian bàng bạc trong ánh trăng hạ tuần mờ ảo, mới chỉ chín giờ tối mà đường làng đã không còn mấy người qua lại, sau một ngày di chuyển cả quãng đường dài, lại trải qua nhiều cảm xúc mạnh khiến tôi thấm mệt, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Giữa đêm, có tiếng đập cửa, rồi tiếng cô em gái út hốt hoảng: “Chị, chị ơi, mẹ đi đâu rồi? Mẹ đi đâu rồi ý!”. Chúng tôi choàng tỉnh, cuống cuồng tìm mẹ từ trong nhà, ngoài ngõ đến những con đường quanh nơi nghỉ, nhưng không thấy. Người chủ nhà nơi chúng tôi nghỉ cũng lo lắng chạy đi tìm. Đồng hồ chỉ hai giờ, rồi ba giờ sáng, mấy chị em gái lo quá đã rấm rứt khóc. Mãi đến gần bốn giờ, từ phía nghĩa trang xuất hiện một bóng người xiêu xiêu. Chúng tôi chạy tới và nhận ra mẹ. Mẹ gần như lả đi trong vòng tay các con, chỉ khẽ nói một câu: “Đêm nay tụi nó không về”.

Lúc ấy chúng tôi mới hiểu: mẹ đã chờ đêm xuống để một mình đi bộ trở lại nghĩa trang. Mẹ tin vào những câu chuyện từng được nghe, rằng trong những đêm khuya các anh sẽ trở về bên nhau, nên lặng lẽ đến đó với hy vọng được gặp lại anh tôi. Mẹ không mong điều gì lớn lao, chỉ cần nhìn thấy con một lần, dù chỉ là dáng hình thấp thoáng trong đêm, dù không phải bằng xương bằng thịt, thay vì chỉ được ngắm con qua tấm ảnh trên bàn thờ. Suốt mấy tiếng đồng hồ, mẹ ngồi giữa những hàng mộ và chờ đợi. Câu nói “Đêm nay tụi nó không về” ngắn ngủn, mộc mạc mà chất chứa biết bao thương nhớ. Tìm được mẹ, không ai trong chúng tôi ngủ tiếp được; nhìn mẹ thiếp đi vì mệt, ai cũng lo niềm hy vọng đã nâng đỡ mẹ bấy lâu nay sẽ hóa thành nỗi thất vọng khiến mẹ đổ bệnh.

Thế nhưng sáng hôm sau, trái với nỗi lo của chúng tôi, mẹ lại bình thản lạ thường. Hướng mắt về phía nghĩa trang, mẹ kể rằng tuy không nhìn thấy các anh, mẹ vẫn cảm nhận được hơi ấm của họ. Ngồi ở một góc nghĩa trang suốt mấy tiếng trong đêm, mẹ không thấy lạnh lẽo hay cô độc; nhìn từng hàng mộ, mẹ có cảm giác các anh đang quây quần quanh mình, thân thương như những đứa con đang ngồi bên mẹ, nhìn mẹ, vẫy tay, cười hồn nhiên... y như cái hôm các anh chào mẹ lên đường. “Đứa nào cũng trẻ” Mẹ nói về các anh bằng tất cả tình yêu thương và niềm tự hào. Chúng tôi ngồi lặng, tuy chuyến đi giữa đêm ấy không đem lại cuộc gặp gỡ mà mẹ từng mong, nhưng đã giúp mẹ tìm được một sự an ủi sâu xa trong lòng.

Từ sau hôm ấy, mẹ tôi vẫn nhớ anh, vẫn đứng trước bàn thờ trò chuyện với anh và thỉnh thoảng lại vào Trường Sơn thăm anh cùng đồng đội. Chỉ có điều, mỗi lần nhắc đến anh, trong ánh mắt mẹ không chỉ có nỗi đau như trước. Mẹ dường như đã bình thản hơn khi tin rằng anh không mất đi, ở đâu đó anh vẫn hiện hữu, vẫn cùng đồng đội ngày đêm luyện tập để bảo vệ Tổ quốc và mẹ vẫn có anh ở bên như ngày nào. Còn chúng tôi, mỗi khi nhớ lại dáng mẹ xiêu vẹo trở về từ phía nghĩa trang lúc gần sáng, vẫn không khỏi nghẹn ngào. Chiến tranh đã lấy đi người con trai mười tám tuổi của mẹ, nhưng không thể lấy đi tình yêu thương và sự chờ đợi của mẹ dành cho anh. Với mẹ, anh vẫn mãi là đứa con trai ngoan ngoãn, hiền lành, vẫn được mẹ nhớ, mẹ thương, và vẫn có một chỗ không ai thay thế được trong trái tim mẹ./.

Nguyễn Thanh Hà - Phó HT trường TH Quang Trung