Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Tấm gương kiên trung, bất khuất và di sản đại đoàn kết toàn dân tộc
PV•14:10 20/09/2026
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026) là một chí sĩ yêu nước tiêu biểu, nhà đại trí thức, nhà hoạt động văn hóa, báo chí xuất sắc, người có uy tín lớn trong Nhân dân và là người con ưu tú của quê hương Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu.
Suốt trọn cuộc đời, Cụ luôn nêu cao lòng yêu nước, thương dân, kiên trì đấu tranh vì dân quyền, dân sinh, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của Nhân dân. Cuộc đời và sự nghiệp của Cụ là một tấm gương sáng ngời về khí tiết, bản lĩnh và tinh thần tận tụy phụng sự Tổ quốc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên gọi lúc nhỏ là Huỳnh Văn Thước, sau đi học gọi là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Tình.Từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi tiếng thông minh, học giỏi và đạt thành tích cao trong các kỳ thi khoa cử. Năm 1900, Cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và bắt đầu lấy tên gọi là Huỳnh Thúc Kháng. Đến năm 1904, Cụ xuất sắc đỗ Tiến sĩ. Tuy đỗ đạt cao, Cụ không ra làm quan cho bộ máy thực dân – phong kiến mà dấn thân vào các hoạt động yêu nước, tìm con đường canh tân đất nước, cứu dân, cứu nước.
Chí sĩ tiên phong trong phong trào Duy Tân
Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng hai chí sĩ Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi vào phía Nam để tìm hiểu thực tế dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm kiếm những người cùng chí hướng vận động cho phong trào Duy tân. Khi trở về Quảng Nam năm 1906, Cụ cùng các đồng chí khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân tại Trung Kỳ, trở thành một trong những nhân vật tiêu biểu hàng đầu của phong trào canh tân đầu thế kỷ XX.
Cụ chủ trương cứu nước bằng con đường "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", kết hợp đề cao tư tưởng dân quyền, thúc đẩy cải cách giáo dục, phát triển kinh tế và đổi mới xã hội. Trong hoạt động Duy Tân, Cụ tích cực diễn thuyết, tuyên truyền vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử từ chương để chú trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tư tưởng tiến bộ và mở mang tri thức. Cụ cùng các chí sĩ tiến bộ tham gia vận động mở trường tân học, thành lập hội buôn, phát triển thương nghiệp, khuyến khích sản xuất và nâng cao đời sống dân sinh. Năm 1905, Cụ cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp có những hoạt động sôi nổi tại trường thi Bình Định, thể hiện rõ thái độ phản đối lối học từ chương, đề cao thực học và tinh thần canh tân.
Đầu năm 1908, phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu thuế bùng nổ mạnh mẽ ở Trung Kỳ bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp dã man. Ngày 24 tháng 2 năm 1908, Cụ bị bắt và giam tại Nhà lao Hội An. Trong quá trình thẩm vấn, Cụ kiên quyết bác bỏ cáo buộc xúi giục nổi dậy, khẳng định mục đích của mình là khai trí, cải cách giáo dục và phát triển kinh tế chứ không kích động bạo loạn. Tháng 6 năm 1908, Cụ bị kết án đày ra Côn Đảo.
Trong 13 năm lưu đày tại Côn Đảo (1908 – 1921), dù chịu nhiều gian khổ, lao dịch khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ vững khí tiết bất khuất. Cụ chủ động tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, sáng tác thơ văn yêu nước và cùng các đồng chí tổ chức diễn thuyết, xướng họa, giữ vững chí khí cách mạng. Cụ cùng các chí sĩ còn tham gia soạn tuồng Trưng Vương nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước và bình quyền.
Đấu tranh công khai trên nghị trường và mặt trận báo chí
Tháng 2 năm 1921, sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng trở về quê hương và tiếp tục tìm kiếm những hình thức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh mới. Năm 1926, Cụ được bầu làm dân biểu và giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên diễn đàn nghị trường, Cụ đã dũng cảm đấu tranh đòi mở rộng quyền tự do dân chủ, đòi ban hành hiến pháp, phân định rõ thẩm quyền các cơ quan, trao quyền bầu cử cho người đóng thuế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Nhận thấy sự can thiệp, hạn chế của chính quyền thực dân, năm 1928, Cụ quyết định từ chức để giữ vững khí tiết.
Song song với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng coi báo chí là vũ khí sắc bén để tuyên truyền tư tưởng yêu nước. Ngày 10 tháng 8 năm 1927, Cụ thành lập báo Tiếng Dân tại Huế, giữ vai trò Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong 16 năm hoạt động (1927 – 1943) với 1.766 số báo, Tiếng Dân luôn giữ vững tôn chỉ độc lập, phản ánh chân thực đời sống Nhân dân, tố cáo chế độ tù đày, chính sách áp bức, thuế khóa bất công.
Đặc biệt, từ năm 1938, báo Tiếng Dân đã đăng tải loạt bài viết của Cụ (với bút danh Sử Bình Tử) khẳng định chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa thông qua các tài liệu lịch sử uy tín như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Bất chấp sự kiểm duyệt gắt gao của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ, Cụ vẫn kiên trì giữ vững nguyên tắc làm báo, thà để trống những đoạn bị cắt bỏ chứ không tự kiểm duyệt tư tưởng của mình. Đến ngày 24 tháng 4 năm 1943, chính quyền thực dân Pháp đã ra lệnh đình bản báo Tiếng Dân.
Đóng góp quan trọng cho chính quyền cách mạng và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ và uy tín lớn của Cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 02 tháng 3 năm 1946, Cụ được Quốc hội khóa I phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Cụ đã dành nhiều tâm huyết cho việc kiện toàn bộ máy hành chính, xây dựng thể chế, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an và củng cố nền móng của chính quyền cách mạng còn trẻ tuổi. Tháng 5 năm 1946, khi Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập, Cụ được bầu làm Hội trưởng, góp phần quan trọng vào việc mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp các tầng lớp nhân sĩ, trí thức và Nhân dân ủng hộ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Một mốc son chói lọi trong cuộc đời hoạt động của Cụ là giai đoạn từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 21 tháng 10 năm 1946. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Người đã tin tưởng trao cho Cụ quyền điều hành đất nước với lời dặn dò lịch sử: "Mong Cụ dĩ bất biến, ứng vạn biến". Trên cương vị Quyền Chủ tịch nước, Cụ đã chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ, xử lý kịp thời các công việc đối nội, đối ngoại, kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, giữ vững sự ổn định của chính quyền trong thời điểm vận nước đang ở tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Trở về sau chuyến đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết lời ca ngợi sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ trong việc giải quyết nhiều công việc khó khăn của đất nước.
Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao nhiệm vụ làm Đặc phái viên của Chính phủ đi kinh lý miền Trung. Dù tuổi đã cao, sức yếu, Cụ vẫn hăng hái đến các địa phương để tuyên truyền đường lối kháng chiến, vận động Nhân dân đoàn kết, ủng hộ Chính phủ. Do điều kiện gian khổ và bệnh nặng, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã trút hơi thở cuối cùng tại tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21 tháng 4 năm 1947, hưởng thọ 70 tuổi. Theo nguyện vọng của Cụ, Nhân dân đã an táng Cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn, tỉnh Quảng Ngãi.
Giá trị di sản và tấm gương đạo đức cho các thế hệ mai sau
Sự ra đi của cụ Huỳnh Thúc Kháng là một tổn thất to lớn đối với dân tộc và chính quyền cách mạng. Trong thư gửi đồng bào toàn quốc báo tin Cụ qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tôn vinh Cụ là bậc đại chí sĩ "học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao", suốt đời phấn đấu cho độc lập của Tổ quốc, tự do của Nhân dân. Để ghi nhận những công lao và cốnghiến đặc biệt xuất sắc ấy, ngày 27 tháng 12 năm 2012, Chủ tịch nước đã truy tặng cụ Huỳnh Thúc Kháng Huân chương Sao Vàng - phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Cuộc đời của cụ Huỳnh Thúc Kháng là bài học vô giá về lòng yêu nước thiết tha, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, ý chí tự lực tự cường và bản lĩnh kiên trung trước mọi thử thách. Tấm gương liêm chính, không màng danh lợi, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân của Cụ mãi mãi là ngọn đuốc sáng soi đường cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa hiện nay.
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026)
Hướng tới kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026), Ban Tuyên giáo Trung ương cùng các cơ quan, bộ, ngành và thành phố Đà Nẵng đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền và tổ chức nhiều hoạt động quy mô lớn nhằm tri ân, tôn vinh những cống hiến to lớn của Cụ đối với dân tộc. Mục đích cao cả của dịp kỷ niệm này là giáo dục truyền thống yêu nước, khích lệ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ tích cực noi gương cụ Huỳnh Thúc Kháng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hàng loạt hoạt động trọng tâm được triển khai trang trọng bao gồm Lễ dâng hương, dâng hoa tại Khu lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng và Lễ kỷ niệm cấp tỉnh do thành phố Đà Nẵng chủ trì. Bên cạnh đó, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội thảo khoa học cấp bộ. Nhiều ấn phẩm và phương tiện truyền thông đa dạng cũng được thực hiện như xây dựng phim tài liệu bổ sung tư liệu mới phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam, phát hành đặc biệt bộ tem bưu chính chào mừng, tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Cụ do Trung ương Đoàn phát động, cùng công tác trùng tu, chỉnh trang Khu lưu niệm của Cụ.
Việc học tập và làm theo tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng nhân dịp kỷ niệm 150 năm Ngày sinh của Cụ không chỉ dừng lại ở sự tưởng nhớ lịch sử, mà quan trọng hơn là biến những giá trị cao quý ấy thành hành động thiết thực trong đời sống hiện đại. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần phát huy lòng yêu nước bằng trách nhiệm, thương dân bằng việc làm, giữ vững bản lĩnh liêm chính, đoàn kết một lòng để cùng xây dựng quê hương, đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh và hạnh phúc./.