GS.TS Vũ Minh Khương:"Quản trị đô thị tốt bắt đầu từ câu hỏi người dân cần gì để sống tốt hơn"
GS.TS Vũ Minh Khương sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, trưởng thành ở Hà Nội, từng học tập tại Đại học Harvard và hiện là giảng viên cao cấp Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore. Ông cũng từng là thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ. Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tạp chí Người Hà Nội, ông đã chia sẻ về năng lực tự chủ trí tuệ, khả năng kiến tạo tương lai của Việt Nam và những kinh nghiệm từ Singapore có thể gợi mở cho Hà Nội trong quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân.
PV: Thưa giáo sư, ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống. Những câu chuyện, ký ức và những điều được cha mẹ truyền lại đã hình thành trong ông tình yêu đất nước và lý tưởng sống như thế nào?
GS.TS Vũ Minh Khương: Mỗi khi nhớ về tuổi thơ và những năm tháng trưởng thành, tôi lại nhớ đến những câu chuyện bố mẹ thường kể cho chúng tôi nghe về cảnh lầm than, mất nước của dân tộc trước năm 1945. Dù sinh ra trong những gia đình tương đối khá giả, cả bố và mẹ tôi từ rất sớm đều cảm nhận sâu sắc một sứ mệnh thiêng liêng: sẵn sàng hi sinh vì đất nước, với khát vọng cháy bỏng được chứng kiến một ngày dân tộc Việt Nam ngẩng cao đầu trên một đất nước độc lập, phồn vinh và hùng cường.
Tôi đặc biệt nhớ những câu chuyện bố kể về Văn Cao, người sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, viết “Tiến quân ca” khi mới 21 tuổi - một minh chứng rằng tài năng và khát vọng lớn không phụ thuộc vào tuổi tác. Bố cũng kể về sự dấn thân quả cảm của Văn Cao trong những năm tháng cách mạng. Điều bố muốn truyền lại cho chúng tôi không chỉ là lòng ngưỡng mộ một tài năng lớn, mà còn là một bài học sâu sắc hơn: tài năng chỉ thực sự trở nên cao quý khi được nâng đỡ bởi nhân cách, lòng dũng cảm và tinh thần sẵn sàng dấn thân, hi sinh vì những điều lớn lao hơn chính mình.

PV: Từ thành phố cảng rồi đến với Thủ đô Hà Nội và bước ra thế giới ở những trung tâm học thuật, kinh tế lớn, điều gì vẫn luôn là điểm tựa tinh thần lớn nhất cho ông trên hành trình lao động cống hiến của mình?
GS.TS Vũ Minh Khương: Với tôi, ước vọng cao quý của bố mẹ về tương lai đất nước, cùng tấm gương sống và tinh thần phụng sự của các cụ, có lẽ là nguồn sức mạnh sâu xa và bền bỉ nhất, giúp tôi không ngừng vươn lên, dù trong gian khó hay khi có những điều kiện thuận lợi. Nguồn sức mạnh ấy đã giúp anh trai và tôi không một chút nao núng khi lên đường nhập ngũ và nỗ lực hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ được giao trong những năm tháng gian khổ của đời quân ngũ. Nguồn sức mạnh ấy cũng thôi thúc tôi có những lựa chọn mang tính bước ngoặt và nỗ lực đóng góp hết mình khi đất nước bắt đầu chuyển mình, bước vào công cuộc Đổi mới những năm 1985 - 1986. Từ việc xung phong nhận trọng trách và được tập thể công nhân tín nhiệm bầu làm giám đốc một doanh nghiệp nhà nước đang đứng bên bờ vực phá sản, đến nắm bắt cơ hội sang Đại học Harvard học quản trị kinh doanh; từ những năm tháng tham gia thu hút đầu tư cho Khu kinh tế Đình Vũ, khảo sát cảng nước sâu Lạch Huyện trong vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện phía Việt Nam, đến công việc giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, tôi luôn cảm nhận trong mình một thôi thúc rất sâu sắc: dù ở đâu và làm công việc gì, cũng phải cố gắng làm được điều gì đó có ích cho đất nước. Và tôi ngày cũng nhận ra một điều mà sau này trở thành niềm tin sâu sắc trong suốt cuộc đời làm việc của mình: tiềm năng vươn lên và khát vọng đóng góp cho đất nước trong mỗi con người Việt Nam lớn lao và cao quý hơn rất nhiều so với những gì chúng ta thường có thể quan sát và đo đếm được. Tôi coi đó là một “kho báu” vô giá của dân tộc!
PV: Thưa giáo sư, nhìn lại quá trình phát triển của đất nước, điều gì khiến ông ấn tượng nhất về những thành tựu và dấu ấn của công cuộc Đổi mới, đặc biệt từ góc nhìn của một chuyên gia chính sách công?
GS.TS Vũ Minh Khương: Nếu phải chọn một thành tựu lớn nhất, tôi cho rằng đó là năng lực tự đổi mới và khả năng chuyển hóa những hoàn cảnh tưởng như rất khó khăn thành cơ hội phát triển. Nhìn lại năm 1945, Việt Nam là một quốc gia vừa giành được độc lập trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nền kinh tế kiệt quệ và nạn đói vừa cướp đi sinh mạng của hàng triệu đồng bào. Sau đó là nhiều thập kỷ chiến tranh, chia cắt và những thử thách khắc nghiệt của thời kỳ hậu chiến. Nhưng từ công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã thực hiện một cuộc chuyển đổi có ý nghĩa lịch sử: từ một nền kinh tế nghèo, thiếu hụt và tương đối khép kín trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng và ngày càng có vị thế quan trọng trong nền kinh tế thế giới.
Từ góc nhìn chính sách công, điều đặc biệt đáng chú ý là quá trình đó không phải kết quả của một bản thiết kế hoàn hảo được vạch ra ngay từ đầu. Đó là hành trình vừa làm vừa học, mạnh dạn thí điểm, nhìn thẳng vào thực tế, sửa đổi những gì không còn phù hợp và ngày càng chủ động mở cửa, học hỏi và hội nhập với thế giới. Đằng sau hành trình ấy, theo tôi, là một năng lực rất quý của Việt Nam: năng lực kiến tạo giá trị - khả năng biến thách thức thành cơ hội, biến điểm yếu thành động lực cải cách và chuyển hóa những tiềm năng, lợi thế của đất nước thành sức mạnh phát triển thực sự.
Tuy nhiên, thành tựu của 40 năm Đổi mới cũng đặt chúng ta trước một câu hỏi lớn hơn: những năng lực đã giúp Việt Nam đi từ nghèo khó lên mức thu nhập trung bình liệu có đủ để đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045? Tôi cho rằng câu trả lời là chưa. Chặng đường phía trước đòi hỏi một tầm mức cải cách, một năng lực kiến tạo phát triển và một khát vọng vươn lên cao hơn rất nhiều.
PV: Với quá trình tích lũy tri thức, lao động cống hiến của mình, giáo sư sẽ tiếp tục là nhân tố góp phần kết nối Việt Nam với thế giới?
GS.TS Vũ Minh Khương: Một bước đi mà tôi đặc biệt kỳ vọng là nỗ lực nâng tầm gắn kết chiến lược giữa Việt Nam và Singapore đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Đối thoại Chiến lược Singapore - Việt Nam vào cuối tháng Tám vừa qua với sự tham gia cấp cao của hai bên, theo tôi không nên chỉ được nhìn như một hoạt động đối ngoại quan trọng. Nó có thể mở ra một cách tiếp cận mới về hợp tác phát triển: không chỉ trao đổi kinh nghiệm hay thu hút đầu tư, mà cùng kiến tạo những năng lực mới cho tương lai. Xa hơn nữa, tôi kỳ vọng sự gắn kết ấy không chỉ giúp Việt Nam và Singapore mạnh hơn, thịnh vượng hơn và có sức chống chịu cao hơn, mà còn là đóng góp ngày càng có ý nghĩa đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ chung của khu vực và thế giới. Theo tôi, đó cũng chính là tinh thần Đổi mới ở một tầm cao mới.
PV: Giáo sư có liên hệ gì về tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” 81 năm trước với những phẩm chất cơ bản cần không ngừng bồi đắp để người Việt Nam thực sự làm chủ tương lai đúng như tinh thần Đổi mới ở tầm cao mới?
GS.TS Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” vẫn có ý nghĩa đặc biệt trong thời đại hôm nay. Nhưng “tự giải phóng” trong thế kỷ XXI không còn chỉ là giành độc lập về chủ quyền. Đó còn là giải phóng con người khỏi giới hạn của tri thức, năng suất, tư duy cũ và sự tự ti; tiến tới thực sự có năng lực tự chủ về trí tuệ, công nghệ, kinh tế và khả năng kiến tạo tương lai.
Tôi đặc biệt coi trọng 5 phẩm chất. Thứ nhất là khát vọng. Một dân tộc chỉ có thể làm nên những điều lớn lao khi người dân tin rằng đất nước mình có thể vươn tới những chuẩn mực cao nhất. Thứ hai là tinh thần học hỏi. Trong kỷ nguyên AI, lợi thế lớn nhất không phải là những gì chúng ta đang biết mà là tốc độ chúng ta có thể học, thích nghi và tự đổi mới. Thứ ba là tinh thần kiến tạo giá trị. Mỗi người nên tự hỏi không chỉ “tôi nhận được gì?” mà quan trọng hơn là “tôi tạo ra giá trị gì cho người khác, cho tổ chức và cho đất nước?”. Thứ tư là khả năng hợp tác và cộng hưởng. Người Việt Nam cần mạnh hơn trong xây dựng niềm tin, phối hợp và biến sự khác biệt thành sức mạnh cộng hưởng. Và thứ năm là sự chính trực và tinh thần trách nhiệm. Một xã hội có thể thông minh và năng động, nhưng muốn tiến xa và bền vững thì phải xây dựng được niềm tin. Nếu những phẩm chất ấy trở thành một phần của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tôi tin rằng độc lập sẽ được nâng lên một tầng ý nghĩa mới.
PV: Hà Nội - Thủ đô của cả nước đã lần đầu tiên chính thức đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII (2025-2030) những tiêu chí cụ thể về hạnh phúc - đặt người dân vào vị trí trung tâm. Giáo sư có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm của Singapore trong quản trị đô thị hiệu quả, lấy chất lượng sống của người dân làm mục tiêu?
GS.TS Vũ Minh Khương: Một trong những bài học sâu sắc nhất từ Singapore, theo tôi, là: quản trị đô thị tốt không bắt đầu từ câu hỏi chính quyền muốn quản lý cái gì, mà từ câu hỏi người dân cần gì để sống tốt hơn, phát triển tốt hơn và tin tưởng hơn vào tương lai.
Tôi thấy có 4 kinh nghiệm đặc biệt có ý nghĩa đối với Hà Nội.
Trước hết là tầm nhìn dài hạn gắn với tư duy hệ thống và năng lực thực thi rất cao. Nhà ở, giao thông, không gian xanh, cấp nước, môi trường hay các trung tâm kinh tế không được hoạch định như những lĩnh vực riêng rẽ, mà là những cấu phần của một hệ thống đô thị thống nhất. Quản trị tốt vì vậy không phải là tối ưu từng bộ phận, mà là làm cho cả hệ thống vận hành tốt hơn vì người dân.
Thứ hai là lấy lòng tin của người dân làm một thước đo cốt lõi của quản trị. Một cách tiếp cận rất đáng suy ngẫm có thể được khái quát bằng ba chữ H: Heart - Head - Hand. Heart - Trái tim đặt câu hỏi: chính quyền và mỗi cán bộ có thực sự đau đáu trước những khó khăn, nhu cầu và khát vọng chính đáng của người dân và doanh nghiệp hay không? Head - Cái đầu đặt câu hỏi: có đủ năng lực để nhìn ra căn nguyên vấn đề, hoạch định chiến lược và tìm được giải pháp hiệu quả hay không? Và Hand - Bàn tay là khả năng biến cam kết và giải pháp thành hành động cụ thể, với kết quả mà người dân thực sự cảm nhận được.
Thứ ba là quản trị dựa trên dữ liệu và phối hợp toàn hệ thống. Công nghệ số và AI ngày nay cho phép thành phố nhận biết và xử lý nhiều vấn đề gần như theo thời gian thực - từ giao thông, ngập lụt, ô nhiễm đến phản ánh của người dân. Nhưng công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi dữ liệu được chia sẻ, các cơ quan phối hợp như một hệ thống và trách nhiệm được xác định theo kết quả cuối cùng đối với người dân, thay vì chỉ theo chức năng của từng sở, ngành.
Cuối cùng, Singapore cho chúng ta một bài học sâu sắc rằng hạnh phúc đô thị không thể đo đơn giản bằng thu nhập. Điều quan trọng hơn là phẩm giá và cơ hội của mỗi người dân, dù giàu hay nghèo: được sống trong điều kiện nhà ở tốt, an toàn và thuận tiện; được tôn trọng; được tiếp cận công bằng với giáo dục, y tế và dịch vụ công có chất lượng; được sống trong môi trường xanh, sạch; có cơ hội vươn lên và có niềm tin vào tương lai của mình và của thành phố.
PV: Xin trân trọng cảm ơn giáo sư về những chia sẻ tâm huyết của ông!