Danh thắng - Di tích Hà Nội

Đình Nam Đồng

Bùi Diễm 07:07 04/09/2026

Đình Nam Đồng hiện ở số 73 phố Nguyễn Lương Bằng, phường Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Đây là ngôi đình cổ của làng Nam Đồng xưa, thờ Thành hoàng là Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) - vị danh tướng kiệt xuất dưới triều Lý, người có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập của quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XI.

Theo các tài liệu lịch sử, Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, quê gốc ở làng An Xá, huyện Quảng Đức, phía Nam kinh thành Thăng Long (nay là Hà Nội). Ông sinh năm Kỷ Mùi (1019), xuất thân trong một gia đình có truyền thống võ nghiệp. Cha ông là Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, giữ chức quan trong triều đình nhà Lý.

Từ nhỏ, Ngô Tuấn nổi tiếng thông minh, ham học, giỏi văn chương và võ nghệ. Ông được tuyển vào triều đình năm 23 tuổi, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới các triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Do có nhiều công lao đối với đất nước, ông được vua ban quốc tính họ Lý và từ đó được sử sách ghi nhận với tên gọi Lý Thường Kiệt.

Trong hơn nửa thế kỷ phụng sự vương triều nhà Lý, Lý Thường Kiệt lập nhiều chiến công hiển hách. Năm 1069, ông tham gia cuộc nam chinh đánh Chiêm Thành dưới triều Lý Thánh Tông. Quân Đại Việt tiến sâu vào đất Chiêm, bắt được vua Chiêm Chế Củ, buộc Chiêm Thành phải dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (tỉnh Quảng Bình và phần phía Bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay) để chuộc mạng. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phía Nam.

Công lao lớn nhất của Lý Thường Kiệt gắn liền với cuộc kháng chiến chống Tống những năm 1075 - 1077. Trước nguy cơ xâm lược từ phương Bắc, ông chủ trương “tiên phát chế nhân”, chủ động tiến công trước để phá thế chuẩn bị của đối phương. Cuối năm 1075, quân Đại Việt vượt biên giới đánh vào ba châu Ung, Khâm, Liêm của nhà Tống, phá hủy nhiều căn cứ quân sự và kho tàng hậu cần, làm chậm đáng kể kế hoạch xâm lược của đối phương.

Sau cuộc tiến công phủ đầu, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân về nước, xây dựng phòng tuyến trên sông Như Nguyệt (sông Cầu, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Đầu năm Đinh Tỵ (1077), quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tiến xuống phía Nam. Nhiều trận giao chiến quyết liệt diễn ra dọc phòng tuyến Như Nguyệt. Bằng tài thao lược quân sự và nghệ thuật tổ chức phòng thủ linh hoạt, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

Tương truyền, sau khi lập nhiều chiến công và giữ vai trò quan trọng trong triều đình nhà Lý, Lý Thường Kiệt có mối liên hệ với vùng đất Nam Đồng. Người dân làng Nam Đồng cho rằng ông từng đưa dân đến khai khẩn đất đai, tổ chức sản xuất và ổn định đời sống cư dân tại khu vực này. Khi ông qua đời (năm 1105), nhân dân lập nơi thờ tự để tưởng nhớ công lao, tôn ông làm Thành hoàng làng.

Đầu thế kỷ XIX, Nam Đồng là một trại thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận, sau thuộc tổng Yên Hạ, huyện Hoàn Long. Làng gồm 3 xóm: xóm Đầu, xóm Giữa và xóm Ngoài. Xóm Đầu, ở phía đầu làng, là nơi dựng đền thờ Lý Thường Kiệt. Theo thời gian, đền được mở rộng và phát triển thành đình Nam Đồng.

Các tài liệu hiện có cho biết đình Nam Đồng được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng, khoảng thế kỷ XVII - XVIII. Trải qua nhiều lần tu sửa vào các thời kỳ sau, đình vẫn giữ được cơ bản bố cục kiến trúc truyền thống của đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Tượng Lý Thường Kiệt tại đình Nam Đồng.

Xưa kia, trước mặt đình có một ao lớn. Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp mở tuyến đường Hà Nội - Hà Đông, ao bị lấp để phục vụ giao thông. Không gian làng cổ vì thế có nhiều thay đổi, song ngôi đình vẫn được cộng đồng dân cư địa phương gìn giữ như một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của làng.

Đình được xây dựng theo mặt bằng hình chữ đinh gồm tòa đại bái và hậu cung. Tòa đại bái gồm năm gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai, mái lợp ngói mũi hài. Trên bờ nóc đắp hình hổ phù đội mặt trời, hai đầu đốc trang trí đầu kìm cách điệu.

Các gian phía trước mở cửa theo kiểu “thượng song hạ bản”, nền lát gạch Bát Tràng. Hệ thống kết cấu gỗ được liên kết theo lối kiến trúc truyền thống. Các bức cốn, đầu dư và cấu kiện kiến trúc còn lưu giữ nhiều họa tiết trang trí mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Hậu cung gồm ba gian, kết cấu “thượng giá chiêng, hạ cốn”. Bên ngoài là hàng hiên rộng. Hai đầu hồi hiên đắp tượng hai vị thần hộ pháp là Vũ Đinh và Thiên Ất. Nhiều chi tiết chạm khắc hoa lá, mây cuốn và linh vật truyền thống vẫn còn được bảo tồn.

Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Tại ban thờ chính đặt long ngai, bài vị, hương án sơn son thếp vàng, đỉnh đồng, chân nến và nhiều đồ tế khí phục vụ nghi lễ truyền thống. Đáng chú ý, đình còn bảo tồn được hệ thống bia đá có niên đại từ thời Lê đến thời Nguyễn. Các văn bia sớm nhất được dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), phản ánh quá trình tu sửa đình và hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Ngoài ra còn có các bia đá niên hiệu Cảnh Hưng, Gia Long và Minh Mệnh. Đây là những tư liệu có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử làng Nam Đồng và ngôi đình qua các thời kỳ.

Bên cạnh hệ thống bia đá, đình còn lưu giữ chuông đồng cổ cùng nhiều hiện vật thờ tự truyền thống như kiệu, bát bửu, hạc thờ và các đồ nghi trượng phục vụ lễ hội.

Sau nhiều năm tồn tại, một số hạng mục kiến trúc của đình từng bị xuống cấp, nhiều cấu kiện gỗ bị mối mọt, hư hỏng. Năm 1990, nhân dân địa phương cùng chính quyền tiến hành tu sửa, tôn tạo nhằm bảo tồn di tích. Ngày 5/10/1991, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành quyết định xếp hạng đình Nam Đồng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Nhằm phát huy giá trị của di tích, tại khu nhà tả vu hiện nay bố trí không gian trưng bày bài thơ “Nam quốc sơn hà” - tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc, gắn liền với tên tuổi Thái úy Lý Thường Kiệt. Không gian trưng bày còn giới thiệu về lịch sử đình Nam Đồng, thân thế và sự nghiệp của danh nhân Lý Thường Kiệt, cùng nhiều hình ảnh, tư liệu phản ánh quá trình hình thành, tồn tại và tu bổ ngôi đình qua các thời kỳ.

Hằng năm, đình Nam Đồng tổ chức hai kỳ lễ hội chính vào ngày 17 tháng Hai và ngày 2 tháng Sáu Âm lịch, tương truyền là ngày sinh và ngày hóa của Thành hoàng. Trong dịp lễ hội, các nghi thức truyền thống như tế yết, đọc thần phả, dâng hương và tế lễ được tổ chức trang trọng với sự tham gia của đông đảo nhân dân địa phương.

Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, đình Nam Đồng không chỉ là nơi thờ phụng Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt mà còn là một di tích lưu giữ nhiều tư liệu về lịch sử hình thành của làng Nam Đồng. Những giá trị lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng của ngôi đình góp phần làm phong phú thêm hệ thống di sản văn hóa của vùng đất Thăng Long - Hà Nội./.

Bùi Diễm