Từ không gian tín ngưỡng ở núi Ngọc Trản đến Di sản văn hóa Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”
Từ một lễ hội tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi điện Hòn Chén, sau đó phổ biến dần ra cộng đồng và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”.
Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Lễ hội điện Huệ Nam
Lễ hội điện Huệ Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ban đầu lễ hội diễn ra trong phạm vi điện Huệ Nam và về sau có sự tham gia của dân làng Hải Cát (phường Kim Long, TP Huế) rồi dần phổ biến rộng rãi trong Nhân dân. Theo tư liệu, Thánh Mẫu Thiên Y A Na được cư dân làng Hải Cát tôn vinh là Mẹ đỡ đầu, vị Thành hoàng của làng Hải Cát, từ đó đình làng Hải Cát trở thành một nơi thờ phụng Mẫu và hằng năm có lễ rước Mẫu bằng thuyền rồng từ điện Hòn Chén lên đình làng Hải Cát, sau đó rước trở lại điện thờ.

Ngày nay, lễ hội được tổ chức vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch với nhiều nghi lễ vẫn giữ được nét truyền thống như cung nghinh Thánh Mẫu và chư vị tại 352 Chi Lăng (phường Phú Xuân) với nghi thức rước bằng đường bộ và đường thủy, Cáo yết, lễ Chánh tế tại điện Huệ Nam, đình làng Hải Cát (phường Kim Long) và thực hành tín ngưỡng hầu đồng… Đặc biệt, Lễ hội điện Huệ Nam là một không gian thể hiện nét đẹp của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt – Di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh.
Ngày 10/12/2024 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 3981/QĐ-BVHTTDL đưa Lễ hội truyền thống “Lễ hội điện Huệ Nam” vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.
Hòn Chén thành Huệ Nam Điện
Điện Hòn Chén (Huệ Nam Điện) nằm trên núi Ngọc Trản (làng Hải Cát, phường Kim Long, TP Huế) vốn nổi tiếng linh thiêng qua nhiều câu chuyện có liên quan đến triều đình nhà Nguyễn. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu bị bệnh ở mắt nhưng ngự y không chữa được nên vua cho người lên điện Hòn Chén cúng bái xong thì bà khỏi bệnh, theo đó vua Minh Mạng đã ban sắc phong và cho sửa sang ngôi điện nên từ đó các quan lại tham gia vào tín ngưỡng thờ Mẫu. Năm 1886, sau khi lên ngôi vua Đồng Khánh cho xây dựng lại đền khang trang, bổ sung nhiều đồ thờ tự và đặc biệt đổi tên Hòn Chén thành Huệ Nam Điện với tấm lòng thành biết ơn Thánh Mẫu (“Huệ Nam” được giải thích là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam).

Điện Huệ Nam với một quần thể gồm khoảng 16 công trình kiến trúc lớn nhỏ ở lưng chừng sườn núi Ngọc Trản và hướng mặt ra sông Hương, ẩn mình dưới các cây cổ thụ với không gian thờ tự đa dạng, phản ánh đặc trưng của tín ngưỡng dân gian. Cụ thể, công trình Minh Kính Đài (ngôi nhà rường ba gian khá lớn được xây dựng trên nền điện chia thành ba tầng, cao dần lên và bố trí hệ thống thờ tự theo ba cung) nằm ở vị trí trung tâm của Điện Huệ Nam, óc mái của chính điện được trang trí hình ảnh chim phụng hoàng bằng sành sứ với kỹ thuật thể hiện tinh xảo.
Tầng cao nhất là Minh Kính Cao Đài Đệ Nhất Cung - nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Tam vị thánh Mẫu (Liễu Hạnh, Quế Hoa, Thụy Hoa), Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, Ngũ vị Thánh Bà (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), Nhị vị Tôn Ông và Thất Thánh (vua Đồng Khánh là vị Thánh thứ bảy). Tầng thứ hai Minh Kính Trung Đài Đệ Nhị Cung - thờ tượng thần thánh, tượng Phật và ngai trống trên Cửu Trùng Đài để thờ vọng Ngọc Hoàng Thượng đế.
Tầng thứ ba là Minh Kính Tiền Đài Đệ Tam Cung - thờ tự tiếp tục được mở rộng với các vị Triều Cô, Triều Quận, 12 ông Hoàng, Lục Đinh, Lục Giáp. Bên cạnh đó, còn có nhiều không gian thờ tự khác như Trung Thiên Đài (nơi thờ các quan, các vị âm binh cô hồn, chiến sĩ trận vong…), Quan Cư (nơi soạn đồ lễ), Trinh Cát Viện (thờ những người có công trông coi điện và gian giữa có bài vị Thành hoàng họ Lê của làng Hải Cát), Bắc Tế Đường (thờ Quan Công), Dinh Ngũ Hành (thờ Ngũ Vị Thánh Bà, Am Mẫu Thượng Ngàn, động thờ Ông Hổ...), Miếu Thủy Phủ (thờ Thủy Long Tôn Thần) cùng các am, động và nhiều bệ thờ nằm rải rác trong khu vực.


Theo các nhà nghiên cứu Huế, điện Huệ Nam nguyên là nơi thờ nữ thần Po Nagar – nữ thần Mẹ xứ sở của người Chăm. Sau khi tiếp quản vùng đất này vào năm 1307, người Việt đã phiên âm Việt hóa vị nữ thần của người Chăm với tên đầy đủ là Poh Inư Nưgar thành Po Nagar rồi sau đó gọi là Thiên Y A Na. Hình tượng Thiên Y A Na sau đó được gắn với nhiều truyền thuyết dân gian, trong đó nổi bật là câu chuyện về một vị nữ thần có nguồn gốc kỳ diệu và khi trở về quê hương đã dạy người dân cày cấy, kéo vải, dệt sợi và đặt ra các lễ nghi… từ lòng biết ơn nên người dân lập nơi thờ phụng, tôn vinh như một vị thần đã đem lại cuộc sống no ấm.